Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Chất lượng tăng trưởng kinh tế là một nội dung trong kinh tế học phát triển. Để hiểu rõ khái niệm này, trước hết phải bắt đầu từ việc nghiên cứu khái niệm “tăng trưởng kinh tế”. Theo kinh tế học phát triển [8], tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm theo hai nghĩa.
Theo nghĩa thứ nhất, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra. Nó được tính bằng mức tăng bình quân tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Tốc độ tăng trưởng kinh tế thể hiện trực tiếp trình độ mở rộng quy mô sản lượng đầu ra và có quan hệ phụ thuộc vào sự tăng lên của quy mô sử dụng các nguồn đầu vào.
Theo nghĩa này, tăng trưởng kinh tế biểu hiện về mặt số lượng của quá trình phát triển kinh tế. Theo nghĩa thứ hai, tăng trưởng kinh tế được hiểu theo nghĩa rộng hơn cả về mặt lượng và mặt chất. Về mặt lượng, tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ra ở quy mô, trình độ, tốc độ, nhịp điệu của sự gia tăng sản lượng và quy mô kinh tế. Về mặt chất lượng, tăng trưởng kinh tế chính là sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội.
Tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội thường được đo bằng các tiêu chí như năng suất lao động; hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của tăng trưởng là vốn, lao động, tài nguyên, đất đai; đổi mới khoa học công nghệ, phát triển nguồn lực con người; giải quyết bất bình đẳng xã hội; phát triển cân đối ngành, vùng… Nói cách khác, chất lượng tăng trưởng kinh tế chính là tính quy định vốn có của nó, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho hiện 8 tượng tăng trưởng kinh tế khác với các hiện tượng khác. Chất lượng tăng trưởng kinh tế được quy định bởi chất của các yếu tố cấu thành và phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành tạo nên tăng trưởng kinh tế. Về các yếu tố cấu thành của sự tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế học đều cho rằng nó gồm ba yếu tố: công nghệ, vốn vật chất và lao động. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thời đại vai trò của các yếu tố này trong quá trình sản xuất cũng có sự thay đổi theo.
Các nhà kinh tế học của trường phái cổ điển đều nhấn mạnh đến yếu tố đất đai, lao động và vốn, trong đó đất đai được đánh giá là một yếu tố quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế. David Ricardo (1972-1823) cho rằng: tăng trưởng là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí này lại phụ thuộc vào đất đai. Do đó, đất đai là giới hạn đối với tăng trưởng. Trong mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế, Harrod - Domar ở thập kỷ 40 của thế kỷ XX đã xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu về vốn.
Họ cho rằng vốn được tạo ra bằng đầu tư là yếu tố cơ bản của tăng trưởng và tiết kiệm của nhân dân và của các công ty là nguồn gốc của đầu tư. Ở đây, hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn - đầu ra) được đưa ra nhằm phản ánh trình độ kỹ thuật của sản xuất và đo năng lực sản xuất của đầu tư. Họ đã đưa ra kết luận rằng chỉ bằng cách tăng nhanh tỷ lệ tiết kiệm (tức là đầu tư lớn hơn) nền kinh tế mới tăng trưởng nhanh. Đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế.
Nhà kinh tế học Robert Solow (đoạt giải Nobel năm 1987) đã chỉ ra mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công nghệ. Ông cho rằng tiết kiệm và đầu tư chỉ tạo nên sự tăng trưởng ngắn hạn và tỷ lệ tăng trưởng dài hạn phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ. Đầu tư vốn vật chất không phải là nguồn lực của sự tăng trưởng dài hạn và sự tăng trưởng bền vững nhất sẽ phụ thuộc vào trình độ công nghệ để nâng cao năng suất lao động. Robert Solow đưa ra kết luận: sự khác biệt trong mức thu nhập bình quân giữa các nước là do tỷ lệ tiết kiệm và tốc độ phát triển dân số khác nhau.
Công nghệ là một yếu tố ngoại sinh và khẳng định tốc độ tăng trưởng kinh tế dài hạn của một quốc gia phụ thuộc vào yếu tố ngoại sinh này. 9 Tuy nhiên, trên thực tế, tiến bộ công nghệ không thể tự nhiên có mà do con người tạo ra thông qua một quá trình nghiên cứu và đổi mới liên tục. Giữa những năm 1980, các nhà kinh tế học đã nỗ lực xây dựng các mô hình tăng trưởng nhấn mạnh rằng tăng trưởng kinh tế là hệ quả nội sinh của một hệ thống kinh tế. Những mô hình này được gọi là tăng trưởng nội sinh (endogenous growth).
Trọng tâm của các mô hình này là nhằm nội tại hóa các biến “ngoại sinh” của mô hình Solow - đó chính là tiến bộ khoa học công nghệ. Các mô hình này tập trung vào hai nguyên nhân đưa tới sự tiến bộ công nghệ: tích lũy vốn nhân lực và hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D). Một mặt, họ coi R&D đóng vai trò tiên quyết trong quá trình sáng chế và đổi mới mà nhờ đó nền kinh tế thu được những sản phẩm và công nghệ mới có chất lượng cao hơn. Mặt khác, sự tích lũy vốn nhân lực chính là quá trình qua đó nâng cao kỹ năng đem lại lợi ích cho bất kỳ một hoạt động sản xuất hay sáng tạo nào, trong đó có R & D.
Romer (1986), dựa trên ý tưởng của Arrow (1962) về quá trình học hỏi qua thực tế triển khai (learning by doing) và các hiệu ứng phụ (spillover effects), đã chỉ ra rằng các hoạt động đổi mới (cụ thể là kỹ năng làm việc của công nhân) sẽ diễn ra trong quá trình sản xuất và sau đó là thông qua đầu tư. Mặt khác, Lucas (1988) nhấn mạnh rằng tích lũy vốn nhân lực không chỉ diễn ra trong quá trình sản xuất, mà chủ yếu thông qua giáo dục và đào tạo. Do đó, sự tăng trưởng của một nền kinh tế cũng phụ thuộc vào việc từng cá nhân phân bổ thời gian vào làm việc và tăng cường tích lũy vốn nhân lực của mình như thế nào. Vào những năm 1990, xuất phát từ quan điểm cho rằng học hỏi kiến thức chỉ có thể xảy ra khi những kiến thức cơ bản chủ đạo đã được đào tạo ở đâu đó, các mô hình về tăng trưởng nội sinh trên cơ sở R&D (R & D – based endogenous growth) đã ra đời.
Các mô hình này đều dựa trên động cơ cá nhân là nhằm thu lợi nhuận từ việc độc quyền sở hữu sáng chế hoặc cải tiến đổi mới của mình và sự đổi mới đó chính là động lực cho tăng trưởng. Các mô hình này cũng khẳng định rằng R & D là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng. 10 Từ sự phân tích trên đây, có thể đi đến một cách hiểu cơ bản về khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế. Chất lượng tăng trưởng kinh tế được đánh giá là một khái niệm kinh tế dùng để chỉ tính ổn định của trạng thái bên trong vốn có của quá trình tăng trưởng kinh tế, là tổng hợp các thuộc tính cơ bản hay đặc trưng tạo thành bản chất của tăng trưởng kinh tế trong một hoàn cảnh và một giai đoạn nhất định.
Nó bao gồm các yếu tố như chất lượng của nguồn lực lao động, trình độ kỹ thuật và công nghệ để khai thác nguồn lực sẵn có nhằm tạo nên năng suất lao động cao hơn và nền kinh tế phát triển đem lại phúc lợi xã hội cao hơn, môi trường được bảo vệ tốt hơn. Khác với chất lượng tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh mặt ngoài của quá trình tăng trưởng, thể hiện mức độ lớn nhỏ, nhanh, chậm của việc mở rộng quy mô của nền kinh tế. Chất lượng tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế là hai mặt của một vấn đề, có quan hệ qua lại và thống nhất với nhau. Trong quá trình phát triển kinh tế, việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đồng thời nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, điều đó mới tạo nên sự phát triển kinh tế bền vững.
Tóm lại, chất lượng tăng trưởng kinh tế là một khái niệm tổng hợp bao gồm nhiều thuộc tính cơ bản và không cơ bản. Để đưa ra những thuộc tính mang tính chất đặc trưng nhất phản ánh chất lượng tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng thế giới (WB), chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và một số nhà kinh tế học nổi tiếng được giải thưởng Nobel gần đây như G.Lucas, Amartya Sen, J.Stiglitz… đã đưa ra 4 tiêu chuẩn chính: 1) Năng suất lao động tổng nhân tố (TFP) cao, đảm bảo cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên ngoài. 2) Tăng trưởng kinh tế phải đi kèm với phát triển môi trường bền vững. 3) Tăng trưởng kinh tế phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và xóa đói giảm nghèo.
4) Tăng trưởng kinh tế cần phải kết hợp với việc đổi mới thể chế chính phủ để có thể thúc đẩy tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn. NHỮNG TIÊU CHUẨN CƠ BẢN ĐỂ ĐÁNH GIÁ CHẤT 11 LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Tiêu chuẩn về năng suất Những lý luận trên đây về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế cho thấy nguồn gốc của tăng trưởng do nhiều yếu tố tạo thành và vai trò của mỗi yếu tố phụ thuộc vào từng hoàn cảnh và thời kỳ phát triển của mỗi nước. Đối với các nước nghèo, vốn vật chất có vai trò quan trọng.
Đối với các nước công nghiệp thì vai trò của TFP lại quan trọng hơn. Theo Robert Solow, hệ số năng suất lao động tổng nhân tố (TFP) là tổng hợp của các yếu tố như sự thay đổi công nghệ, tăng trưởng kỹ năng sản xuất, vốn nhân lực và các yếu tố khác liên quan tới tăng trưởng kinh tế. Hệ số TFP càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng tốt và năng suất lao động càng cao.