CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. CẠNH TRANH LÀ MỘT THUỘC TÍNH QUAN TRỌNG NHẤT CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: 1. Khái niệm cạnh tranh kinh tế: 1. Khái niệm: Cạnh tranh kinh tế là quá trình đấu tranh giữa các doanh nghiệp, quốc gia, khu vực khác nhau trên một thị trường chung nhằm đứng chân trên thị trường và tăng lợi nhuận, trên cơ sở tạo ra và sử dụng ưu thế về giá trị sử dụng, gía bán và tổ chức tiêu thụ sản phẩm của họ.
Cấp độ cạnh tranh: Ba cấp độ của năng lực cạnh tranh bao gồm : Năng lực cạnh tranh quốc gia: Là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: Được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ đó trên thị trường. Mối quan hệ giữa 3 cấp độ cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh quốc gia cao đòi hỏi có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, đồng thời phải xây dựng môi trường kinh doanh, chính sách vĩ mô và kết cấu hạ tầng thích hợp.
Chính phủ chịu trách nhiệm về năng lực cạnh tranh quốc gia. NguyÔn V©n Anh 5 LuËn v¨n Th¹c sü QTDN Trêng §¹i häc B¸ch khoa Hµ Néi Để doanh nghiệp cạnh tranh tốt: Điều kiện, tiền đề kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được, môi trường kinh tế phải ổn định, kết cấu hạ tầng, lao động, khoa học và công nghệ của là những yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh nhiều sản phẩm, dịch vụ có năng lực cạnh tranh khác nhau.
Vài nét về học thuyết cạnh tranh: 1. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith: Lý thuyết này ra đời gắn với các cuộc cách mạng như: Cách mạng công nghiệp Mỹ, Pháp. Lý thuyết này xây dựng trên tư tưởng buôn bán tự do (tự do hoá mậu dịch). Theo Adam Smith thì các quốc gia sẽ thu được lợi ích nếu tham gia vào TMQT dựa trên lợi thế tuyệt đối của các quốc gia đó (absolute advantage).
Khái niệm lợi thế tuyệt đối: Là lợi thế đạt được của một quốc gia nếu quốc gia đó tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm có chi phí sản xuất thấp hơn chi phí sản xuất sản phẩm tương tự ở quốc gia khác. NHẬN XÉT: * Ưu điểm : + Khi tham gia thương mại quốc tế thì tổng sản phẩm của quốc gia tăng lên. Như vậy chuyên môn hoá được dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối sẽ làm tăng sản phẩm toàn thế giới. + Thương mại quốc tế kích thích sản xuất và tiêu dùng ở các quốc gia từ đó kích thích tăng trưởng nền kinh tế quốc dân.
+ Nếu chuyên môn hoá theo lợi thế tuyệt đối sẽ cho phép khai thác và phát triển những ngành có thế mạnh do đó sẽ thay đổi cơ cấu kinh tế quốc gia. NguyÔn V©n Anh 6 LuËn v¨n Th¹c sü QTDN Trêng §¹i häc B¸ch khoa Hµ Néi + Trên cơ sở đó thì các quốc gia sẽ có chính sách để lựa chọn mặt hàng tham gia thương mại quốc tế có được hiệu quả nhất. * Nhược điểm: + Lý thuyết lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích cho quan hệ thương mại giữa các nước có năng suất lao động chênh lệch tuyệt đối + Nếu một quốc gia bất lợi trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng muốn tham gia vào thương mại quốc tế không thể giải thích bằng lý thuyết này. + Đã đồng nhất chi phí sản xuất với tiền lương của công nhân như trên thực tế thì tiền lương công nhân chỉ là một phần của chi phí sản xuất ngoài ra nó còn các yếu tố khác như là: Công nghệ, vốn, đất đai,.
+ Lý thuyết này đã quan niệm giá cả là hoàn toàn do chi phí sản xuất quyết định, không tính đến các chi phí khác như là chi phí vận tải. + Lý thuyết này không tính đến trình độ lao động giữa các nước. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo: Theo David Ricardo thì nếu một quốc gia bất lợi trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng thì vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế nếu biết lựa chọn mặt hàng thích hợp có lợi thế so sánh (competitive advantage) Khái niệm Lợi thế so sánh: Là lợi thế đạt được của một quốc gia nếu quốc gia đó chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm thể hiện mối tương quan thuận lợi hơn so với quốc gia khác về mặt hàng đó và nhập khẩu những sản phẩm có tình hình ngược lại. - Nếu quốc gia nào có hiệu quả thấp trong sản xuất tất cả các mặt hàng thì quốc giá đó sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng ít bất lợi nhất và nhập khẩu những hàng hoá bất lợi nhất.
NguyÔn V©n Anh 7 LuËn v¨n Th¹c sü QTDN Trêng §¹i häc B¸ch khoa Hµ Néi * Ưu điểm: Mặc dù có những hạn chế song lý thuyết lợi thế so sánh vẫn là một trong những chân lý sâu sắc nhất của mọi môn kinh tế học. Nó có thể áp dụng cho bất kỳ nước nào và cho nhiều loại hàng hoá. Hơn nữa, có có thể tổng quát hoá cho nhiều loại đầu vào, tỷ lệ giữa các nhân tố thay đổi, và lợi tức giảm dần. * Nhược điểm : Lý thuyết này giả định một nền kinh tế cạnh tranh hoạt động trôi chảy với tiền lương và giá cả linh hoạt, không có thất nghiệp.
Khi nền kinh tế lâm vào suy thoái hoặc không hoạt động hết chức năng của mình thì ta không thể đoán chắc rằng các nước sẽ thu lợi từ thương mại hoặc lý thuyết về lợi thế so sánh sẽ đúng trong moị trường hợp. Nhưng trong mọi cuộc suy thoái, nguồn lao động và vốn chưa được sử dụng hết đã tích cực vận động hành lang để được bảo trợ thị trường của họ khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài. Những thời kỳ này trong lịch sử đã nhắc nhở chúng ta rằng, lý thuyết cổ điển về lợi thế so sánh chỉ tuyệt đối có giá trị khi mà tỷ giá hối đoái, giá cả và tiền lương được xác định ở các mức thích hợp, và khi các chính sách kinh tế vi mô đã xoá bỏ được những chu kỳ kinh doanh lớn hay những phân bổ sai lệch về thương mại khỏi bức tranh kinh tế. Lý thuyết của David không tính đến các yếu tố sản xuất khác như đất đai, vốn, khoa học công nghệ mà ông đã đồng nhất tiền lương được với chi phí sản xuất ., coi lao động ở các quốc gia là như nhau về trình độ, cường độ và năng suất,.
cho nên điều này không thích hợp vời hoàn cảnh thực tế các nước. Do đó cần phải có lý thuyết khác giải thích đầy đủ hơn. Lý thuyết cạnh tranh của Samuelson: Samuelson giả định nền kinh tế không phải chỉ có một nguồn lực duy nhất mà có nhiều nguồn lực trong đó có nguồn lực chỉ sử dụng cho một ngành và có loại sử dụng cho nhiều ngành. NguyÔn V©n Anh 8 LuËn v¨n Th¹c sü QTDN Trêng §¹i häc B¸ch khoa Hµ Néi Ông khẳng định: Cầu về lao động và mức khả dụng lao động nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận phụ thuộc vào giá tương đối của các hàng hoá.
Chính sự thay đổi về giá tương đối của các hàng hoá là động cơ chuyển dịch nguồn lực linh động giữa các ngành và do đó làm thay đổi khả năng cung ứng sản phẩm của nền kinh tế. Về cơ sở và lợi ích của cạnh tranh quốc tế Samuelson cho rằng: Các quốc gia khác nhau về tỷ lệ sử dụng các yếu tố riêng biệt trong các ngành do đó làm cho cung tương đối về các quốc gia khác nhau. Dù cầu tương đối có giống nhau thì giá tương đối của sản phẩm ở các quốc gia cũng khác nhau. Giá cả tương đối chêch lệch là động cơ và tiền đề của khả năng cạnh tranh trong thương mại quốc tế.
Sự khác nhau về nguồn lực trong phát triển kinh tế giữa các nước làm nảy sinh các lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia. Những điều kiện tự nhiên khoáng sản truyền thống lịch sử khác biệt ở mỗi nước cho phép con người ta sản xuất ra những sản phẩm đặc thù để đem bán trên thị trường quốc tế và mua những sản phẩm mà quốc gia mình không sản xuất được. Cả khi những nguồn lực có tính chất chuyên biệt chỉ khác nhau về tỷ lệ giữa các nước khi đem ra sử dụng chúng để sản xuất những sản phẩm giống nhau rồi tham gia thị trường quốc tế người ta vẫn có cơ hội thu lợi nhờ lợi thế so sánh. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter: Michael Porter sinh năm 1947 tại Ann Arbor Michigan.
Porter tốt nghiệp Đại học Princeton năm 1969 với bằng cử nhân hạng ưu về kỹ thuật hàng không và cơ khí. Tại Đại học Harvard, Porter đậu bằng MBA (1971), tiếp sau đó là bằng tiến sĩ kinh tế học kinh doanh (1973). Porter trở thành giảng viên của Đại học Harvard năm 26 tuổi, một trong những người trẻ nhất được phong hàm Giáo sư chính thức trong lịch sử của trường. Porter là một trong 15 người hiện nay tại Đại học Harvard có học hàm giáo sư bậc cao nhất gọi là University Proessor.
Năm 1990, Michael Porter công bố kết quả nghiên NguyÔn V©n Anh 9 LuËn v¨n Th¹c sü QTDN Trêng §¹i häc B¸ch khoa Hµ Néi cứu xác định tại sao một vài quốc gia thành công và những quốc gia khác lại thất bại trong cạnh tranh quốc tế. Porter và các đồng nghiệp của ông đã xem xét 100 ngành công nghiệp tại 10 quốc gia khác nhau. Lý thuyết này của ông đã đóng góp quan trọng trong thương mại quốc tế. Cũng giống như những công việc của các chuyên gia kinh tế về lý thuyết thương mại mới, công việc của Porter được thực hiện bởi sự tin tưởng về sự tồn tại của lý thuyết thương mại quốc tế nói lên một phần cuốn đề và hy vọng giải thích tại sao một quốc gia đạt được sự thành công quốc tế trong một ngành công nghiệp riêng biệt.