CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CHỨNG THỰC CHỮ KÝ SỐ CÔNG CỘNG 1. Khái quát về dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng 1. Dịch vụ “Theo quan điểm truyền thống: Những gì không phải nuôi trồng, không phải sản xuất là dịch vụ. Như vậy, dịch vụ bao gồm các lĩnh vực hoạt động như: Khách sạn, tiệm ăn, hiệu sửa chữa, giải trí, bảo tàng, chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm, tư vấn, giáo dục, đào tạo, tài chính, ngân hàng, bán buôn bán lẻ, giao thông vận tải, các phương tiện công cộng (điện, nước, viễn thông.), dịch vụ công (tòa án, cảnh sát, quân đội, cứu hỏa).
Theo cách hiểu phổ biến: Dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm của nó là vô hình. Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng hoặc với tài sản do khách hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Theo cách hiểu khác: Dịch vụ là một hoạt động xã hội mà hoạt động này đã xảy ra trong mối quan hệ trực tiếp giữa khách hàng và đại diện của công ty cung ứng dịch vụ”. (Đỗ Thị Đông, Đặng Ngọc Sự, 2022, tr.
Sự hài lòng của khách hàng Theo Hansemark và Albinsson (2004), sự hài lòng của khách hàng là một thái độ tổng thể của khách hàng đối với một nhà cung ứng dịch vụ, hoặc một cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và những gì họ tiếp nhận, đối với sự đáp ứng một số nhu cầu, mục tiêu hay mong muốn. Kotler (2002) định nghĩa sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm (hay dịch vụ) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ. Thông qua các quan điểm trên, có thể nói rằng, sự hài lòng của khách hàng đối với một sản phẩm hay dịch vụ là trạng thái cảm giác mà khách hàng có được do sản phẩm hay dịch vụ đó đáp ứng hoặc không đáp ứng được những kỳ vọng của họ. Hay sự hài lòng của khách hàng là kết quả của việc sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng hay không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Sự hài lòng của khách hàng chính là điều kiện cơ bản để từ đó khách hàng có hành động mua tiếp theo. Mối quan hệ giữa sự hài lòng của khách hàng và chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ. Các nghiên cứu trước đây cho thấy chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến sự hài lòng (Cronin & Taylor, 1992; Spreng & Patterson, 1997). Lý do là chất lượng dịch vụ liên quan đến việc cung cấp dịch vụ còn sự hài lòng chỉ được đánh giá sau khi đã sử dụng dịch vụ đó.
Nghiên cứu của Ruyter, Bloemer (1997) và nghiên cứu của Johanna & cộng sự (2022) cũng đã kết luận chất lượng dịch vụ là tiền đề và là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự hài lòng. Do đó, việc sử dụng mô hình Servperf - mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ bằng nhận thức thực tế của khách hàng để đánh giá sự hài lòng của khách hàng là có cơ sở.1: Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ Nguồn: Johanna và cộng sự (2022) 1. Khái quát về dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng 1. Chữ ký số công cộng Khái niệm chữ ký số tại các quốc gia có thể khác nhau tùy theo khung pháp lý và quy định của mỗi nước.
Tuy nhiên, điểm chung là chữ ký số được sử dụng để xác minh danh tính của người ký và đảm bảo tính toàn vẹn của tài liệu. Theo quy định eIDAS số 910/2014 của Liên Minh Châu Âu, chữ ký số được định nghĩa là một chữ ký điện tử nâng cao, dựa trên một chứng chỉ đủ điều kiện và được tạo ra bởi một thiết bị tạo chữ ký an toàn. Chữ ký số có giá trị pháp lý tương đương với chữ ký viết tay và đảm bảo rằng dữ liệu ký không bị thay đổi sau khi ký. Theo Đạo luật ESIGN (2000) và Luật UETA (1999) của Hoa kỳ, chữ ký số 6 được định nghĩa là một quá trình điện tử, âm thanh, hoặc biểu tượng được gắn liền hoặc liên kết với một hợp đồng hoặc hồ sơ và được sử dụng bởi một người có ý định ký kết tài liệu.
Chữ ký số được coi là có giá trị pháp lý và có thể thi hành trong các giao dịch thương mại và hợp đồng. Tại Việt Nam, theo Khoản 6 Điều 3 Nghị định 130/2018/NĐ-CP, “chữ ký số là một dạng chữ ký điện tử được tạo ra bằng sự biến đổi một thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, theo đó, người có được thông điệp dữ liệu ban đầu và khóa công khai của người ký có thể xác định được chính xác”. Cũng theo Khoản 3, Điều 3 của Nghị định số 26/2007/NĐ-CP, “chữ ký số công cộng là chữ ký số do thuê bao sử dụng chứng thư số được tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cấp cho thuê bao tạo ra. Dịch vụ chứng thực chữ ký số Dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng là một trong những thành phần cốt lõi của hạ tầng an ninh mạng và bảo mật trong các giao dịch điện tử.
Dịch vụ này cung cấp một cách thức để xác thực danh tính của các bên tham gia giao dịch và đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử. Căn cứ theo Điều 4 Nghị định 130/2018/NĐ-CP, “dịch vụ chứng thực chữ ký số là một loại hình dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cung cấp cho thuê bao để xác thực việc thuê bao là người đã ký số trên thông điệp dữ liệu. Dịch vụ chứng thực chữ ký số bao gồm: 1. Tạo cặp khóa hoặc hỗ trợ tạo cặp khóa bao gồm khóa công khai và khóa bí mật cho thuê bao.
Cấp, gia hạn, tạm dừng, phục hồi và thu hồi chứng thư số của thuê bao. Duy trì trực tuyến cơ sở dữ liệu về chứng thư số. Cung cấp thông tin cần thiết để giúp chứng thực chữ ký số của thuê bao đã ký số trên thông điệp dữ liệu.” Trong đó,“chứng thư số là một dạng chứng thư điện tử do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cấp nhằm cung cấp thông tin định danh cho khóa công khai của một cơ quan, tổ chức, cá nhân, từ đó xác nhận cơ quan, tổ chức, cá nhân là người ký chữ ký số bằng việc sử dụng khóa bí mật tương ứng” (Khoản 7 Điều 3 Nghị định 130/2018/NĐ-CP). Nội dung của một chứng thư số bao gồm: “- Tên của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số.
7 - Tên của thuê bao. - Số hiệu chứng thư số. - Thời hạn có hiệu lực của chứng thư số. - Khóa công khai của thuê bao.
- Chữ ký số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số. - Các hạn chế về mục đích, phạm vi sử dụng của chứng thư số. - Các hạn chế về trách nhiệm pháp lý của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số. - Thuật toán mật mã.
- Các nội dung cần thiết khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông”. Đặc điểm dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng Dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng có những đặc điểm sau: Tính pháp lý: Dịch vụ chứng thực chữ ký số đảm bảo chữ ký số có giá trị pháp lý tương đương với chữ ký tay, giúp các giao dịch điện tử được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tính xác thực: Dịch vụ này xác thực danh tính của người ký bằng cách các đơn vị cung cấp dịch vụ yêu cầu khách hàng cung cấp các giấy tờ cần thiết theo quy định của pháp luật. Sau quá trình thẩm định, xác minh, đối chiếu thông tin qua hình thức tiếp xúc trực tiếp hoặc sử dụng công nghệ eKYC, nhà cung cấp sẽ cấp chứng thư số liên kết trực tiếp với chữ ký số của khách hàng, từ đó giúp xác định rõ ràng chủ thể thực hiện ký.
Tính toàn vẹn: Nếu bất kỳ thông tin nào trong tài liệu được sửa đổi sau khi ký, chữ ký số sẽ trở nên vô hiệu, giúp phát hiện các hành vi gian lận. Các tiêu chí đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng 1. Các tiêu chí theo mô hình Servperf Mô hình Servperf của Cronin và cộng sự (1992) gồm 5 tiêu chí RATER để đánh giá chất lượng dịch vụ. 5 tiêu chí bao gồm: Reliability (Độ tin cậy), Assurance (Sự đảm bảo), Tangibles (Phương tiện hữu hình), Empathy (Sự thấu cảm), và 8 Responsiveness (Khả năng đáp ứng).
5 tiêu chí này có tác động lớn đến chất lượng dịch vụ và từ đó ảnh hưởng mạnh đến sự hài lòng của khách hàng, bao gồm cả sự hài lòng bộ phận cũng như sự hài lòng chung. Các tiêu chí theo nghiên cứu của M-K.Kim và cộng sự (2004) M-K.Kim và cộng sự (2004) đã đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ viễn thông di động qua 6 tiêu chí: Chất lượng cảm nhận; Giá cả dịch vụ, dịch vụ khách hàng; Dịch vụ gia tăng; Khuyến mãi quảng cáo; Hình ảnh thương hiệu. Đề xuất các tiêu chí đánh giá Trong nghiên cứu của M-K.Kim và cộng sự (2004), giá cả dịch vụ và dịch vụ gia tăng là thành phần quan trọng, có ảnh hưởng lớn thứ 2 và 3 đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ viễn thông, chỉ sau tiêu chí chất lượng cảm nhận. Khi so sánh dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng và dịch vụ viễn thông, tác giả thấy có nhiều điểm tương đồng.
Dịch vụ viễn thông và dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng đều là dịch vụ công cộng, dựa trên hạ tầng mạng để cung cấp cho người dùng. Cả hai phải đáp ứng mức độ bảo mật cao nhằm đảm bảo tính toàn vẹn và an toàn thông tin. Đồng thời, dịch vụ viễn thông và dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng đều có mức độ tin cậy cao, được thể hiện qua chất lượng dịch vụ và độ chính xác trong việc xác thực thông tin. Cả hai dịch vụ này đều được cung cấp bởi các tổ chức được cấp phép và chịu sự quản lý bởi Bộ Thông tin và Truyền thông.