Chương I: Tông quan Nội dung chương này sẽ trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp và kêt câu của luận văn. Chương II: Cơ' sỏ’ lý thuyết Chương này sẽ giới thiệu về công ty Vina, các lý thuyết về dịch vụ, lý thuyết ve chất lượng dịch vụ, và ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của khách hảng. Cuối cùng là đề xuất mô hình nghiên cứu và một sổ giả thuyết để kiếm định mô hình. Chương III: Thiết kế nghiên cứu Chương này sẽ trình bày về đổi tượng sản phẩm chúng ta cần nghiên cứu, dối tượng điều tra, phương pháp lấy mẫu, phương pháp phân tích, xác định thang đo và bảng câu hỏi điều tra.
Chương IV: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương bốn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích độ tin cậy của Cronbach Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy để phân tích kết quả. Chương V: Ket luận và kiến nghị Từ những kết luận được rút ra từ kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra kiến nghị bao gồm các phương pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ vận chuyển bằng tàu cao tốc tuyến TP.HCM - Vũng Tàu của Vina Express. 8 CHƯƠNG HAI: co SỎ LÝ THUYẾT Chương này sẽ trình bày các lý thuyết về dịch vụ, lý thuyêt vê chât lượng dịch vụ, và ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của khách hàng. Cuôi cùng là đê xuất mô hình nghiên cứu và một số giả thuyết để kiểm định mô hình.1 Lý thuyết về dịch vụ 2.1 Định nghĩa về dịch vụ Gronroos (1990) được trích trong Cronin và Taylor (1992) cho rằng dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tương tác với khách hàng và các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguôn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ.
Kotler (2011) định nghĩa dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao sở hữu nào cả. Tuy nhiên hiện nay chưa có một định nghĩa chính xác và thống nhất về dịch vụ. Dịch vụ thuần túy có một số đặc trưng phân biệt với hàng hóa thuần túy. Sự khác biệt này dẫn đến việc cung cấp một dịch vụ có sự khác biệt so với cung cấp một hàng hóa.
Đó là đặc trưng như tính vô hình, tính không thể tách rời giữa cung cap và tiêu dùng dịch vụ, tính không đồng nhất, tính không dự trữ được, tính không chuyển đổi sở hữu (Zeithaml và ctg, 1985) 2.2 Các đặc tính của dịch vụ Theo Zeithaml và ctg (1985), ngành dịch vụ được xem như bộ phận đem lại giá trị vô hình cho nền kinh tế. Dịch vụ có một số đặc thù hay tính chất mà nhờ đó chúng ta có thể phân biệt với các loại hàng hóa hữu hình khác, dịch vụ có năm tính chất cơ bản sau đây: ❖ Tính vô hình: Tính vô hình của dịch vụ là tính chất không thể sờ hay nắm bắt được, không có hình dạng cụ thể như một sản phẩm hữu hình. Vì vậy, đế giảm sự không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các bằng chứng của chất lượng dịch vụ từ những đổi tượng họ tiếp xúc, trang thiết bị. mà họ thấy được.
❖ Tính không thế tách ròi: Đặc điểm này muốn nói đến khó khăn trong phân biệt giữa việc tạo thành một dịch vụ và sử dụng dịch vụ. Một dịch vụ không thể tách thành hai giai đoạn bao gồm giai đoạn tạo thành và giai đoạn sử dụng nó. Sự tạo 9 thành và sử dụng của hầu hết các dịch vụ xảy ra đồng thời với nhau. Bởi vì khách hàng cũng sẽ có mặt khi dịch vụ được cung cấp nên sự tương tác giữa bên cung câp dịch vụ và khách hàng là một tính chất đặc biệt của dịch vụ.
❖ Tính không đồng nhất: Ở đây muốn nói đến sự khác nhau của các mức độ thực hiện dịch vụ. Có nghĩa là dịch vụ có thể được xếp hạng từ rất kém cho đến rất hoàn hảo. Những vấn đề thiết yếu và chất lượng của một dịch vụ có thể thay đổi tùy theo người phục vụ, khách hàng cảm nhận và thời gian phục vụ. tính biến thiên trong dịch vụ cũng dễ xảy ra và xảy ra thường xuyên hơn so với sự không phù hợp của các sản phẩm hữu hình.
Bởi vì dịch vụ có mức độ tương tác con người rất cao. Đặc điểm này làm cho việc chuẩn hóa dịch vụ trở nên khó thực hiện hơn. ❖ Tính không dự trữ được: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Vì vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt đế tồn kho.
Khi có nhu câu thị trường thì đem bán ra và rất khó để dự đoán nhu cầu. Nhu cầu có thê thay đôi theo mùa, thời gian trong ngày, chu kỳ kinh doanh. ❖ Tính không chuyến quyền sở hữu được: Khi mua một loại hàng hóa. khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hóa mình đã mua.
Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một khoảng thời gian có giới hạn. Đặc tính này ảnh hưởng đến chính sách phân phối trong đó các trung gian phân phối bao gồm nhà bán sỉ và nhà bán lẻ cũng không được chuyển quyền sở hữu. Họ đon thuần chỉ là người tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ.3 Định nghĩa về chất lượng dịch vụ Khách hàng có vai trò rất quan trọng trong dịch vụ. Vì vậy, khi đánh giá dịch vụ, người ta thường đề cập £en hai khái niệm “chất lượng dịch vụ” và “sự hài lòng của khách hàng”.
Chất lượng dịch vụ là vấn đề được các nhà quản lý quan tâm rất nhiều trong giai đoạn kinh doanh hiện nay. Một sản phẩm có chất lượng tốt chưa hăn được khách hàng chọn mua nếu như các dịch vụ đi kèm với sản phẩm đó dược đánh giá là thấp. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ, nhưng nhìn chung người ta định nghĩa chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được. Mồi khách hàng có nhận thức và nhu cầu khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau.
Feigenbaum (1991) định nghĩa chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng. Những yêu cầu này có thể được nêu ra hoặc không nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh. Trong khi đó, Russell (1999) được trích trong Đoàn Nhã Trúc (2007) lại cho rằng chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng. Theo Lehtinen (1982) được trích trong Ranaweera và Neely (2003), chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh đó là quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ.
Gronroos (1984) cũng đề nghị hai khía cạnh của chất lượng dịch vụ bao gồm chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ và chất lượng chức năng nói lên chúng đưọc phục vụ như thế nào. Tuy nhiên, các nghiên cứu của Parasuraman và ctg (1985, 1988) cho rằng chất lượng dịch vụ là sự đánh giá toàn diện về thái độ nhằm hướng đến sự xuất sắc của dịch vụ. Bùi Nguyên Hùng và Nguyễn Thúy Quỳnh Loan (2004) định nghĩa chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được.
Mỗi khách hàng thường cảm nhận khác nhau về chất lượng. Do đó, việc tham gia của khách hàng trong việc phát triến và đánh giá chất lượng dịch vụ là rất quan trọng. Trong lĩnh vực dịch vụ, chất lượng dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức hay cảm nhận của khách hàng liên quan đến nhu cầu cá nhân của họ. Parasuraman và ctg (1985) đã xây dựng một thang đo bao gồm mười nhân tố của chất lượng dịch vụ.
Thang đo này được gọi là thang đo SERVQUAL. Parasuraman và ctg (1988) đã hiệu chỉnh lại thang đo SERVQƯAL còn năm nhân tố bao gồm 22 biến giải thích để đo lường chất lượng dịch vụ. • Điều kiện hữu hình (Tangibles): Điều kiện vật chat, thiết bị và hình thức bên ngoài của nhân viên phục vụ. 11 • Sự tin cậy (Reliability): Khả năng thực hiện dịch vụ đã hứa hẹn với khách hàng một cách đáng tin cậy và chính xác.
Một dịch vụ được tin cậy nêu nó được thực hiện đúng ngay từ đầu. • Khả năng đáp ứng (Responsiveness): Sự sẵn lòng giúp đỡ khách hàng và khả năng cung cấp dịch vụ nhanh chóng như đã cam kêt. • Sự đảm bảo (Assurance): Kiến thức và tác phong của nhân viên phục vụ cũng như khả năng tạo niềm tin và sự tín nhiệm của họ đối với khách hàng. • Sự đồng cảm (Empathy): Sự quan tâm, chú ý của công ty cung cấp dịch vụ đối với từng khách hàng.
Điều này sẽ tạo cảm giác an tâm đối với khách hàng.1 Các nhân tố và các biến của thang đo SERQUAL - Công ty có trang thiết bị hiện đại. - Công ty có điều kiện vật chất hình thức hấp dần, lôi cuôn. Phương tiện - Nhân viên có trang phục gọn gàng, sạch sẽ. hữu hình - Hình thức bề ngoài của điều kiện vật chất của công ty phù hợp với lĩnh vực dịch vụ cung cấp.
- Công ty thực hiện đúng những gì đã cam kết với khách hàng. - Công ty thể hiện sự quan tâm và giải quyết thấu đáo các vấn đề của khách hàng. Sự tin cậy - Công ty thực hiện dịch vụ đúng ngay từ đầu. - Công ty có thông báo cho khách hàng biết rõ khi nào dịch vụ sẽ được thực hiện.
- Công ty cố gắng đế không xảy ra một sai sót nào. - Nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ nhanh chóng, đúng hạn. - Nhân viên của công ty sằn lòng giúp đỡ khách hàng. Khả năng đáp - Nhân viên của công ty nhanh chóng giải quyết các yêu cầu ứng của khách hàng.
- Nhân viên của công ty không bao giờ quá bận đê dáp úng nhu cầu của khách hàng. 12 - Sự tin tưởng, tín nhiệm của khách hàng đối với nhân viên.