CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI NIỆM VỀ CHẤT LƯỢNG KHÁM CHỮA BỆNH VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KHÁM CHỮA BỆNH 1. Khái niệm về chất lượng Chất lượng là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng rất phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Đứng ở những góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ sản phẩm, từ người sản xuất hay từ đòi hỏi của thị trường [1].
Theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2015: “Chất lượng sản phẩm và dịch vụ của tổ chức được xác định bằng khả năng thỏa mãn khách hàng và ảnh hưởng mong muốn và không mong muốn tới các bên quan tâm liên quan”[51]. Deming: “Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng đều và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp nhận”[85]. Juran: “Chất lượng có nghĩa là tính năng của sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và do đó cung cấp sự hài lòng của khách hàng” [109]. Như vậy, chất lượng của một hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ hay quá trình là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của nó đáp ứng được các yêu cầu đối với sản phẩm ở mức độ dự đoán trước về tính đồng đều và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp nhận.
Khái niệm khám bệnh, chữa bệnh Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp được công nhận [41]. Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh [41]. Khái niệm chất lượng khám chữa bệnh Chất lượng khám chữa bệnh là mức độ các dịch vụ y tế được cá nhân và cộng đồng sử dụng làm tăng khả năng đạt được kết quả sức khỏe mong đợi và phù hợp với 4 kiến thức chuyên môn hiện tại [124], [72]. Phân tích chất lượng khám chữa bệnh, ta nhận thấy bao hàm hai cấu phần riêng biệt là chất lượng vận hành (functional quality), tức là cách thức người bệnh được nhận dịch vụ (tiếp cận dịch vụ) và chất lượng chuyên môn (technical quality), tức là chất lượng của việc cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh (năng lực và kết quả điều trị) [99].
Để cụ thể hóa chất lượng khám chữa bệnh, Viện Y học của Mỹ (IOM- Institute of Medicine) đúc kết và được WHO cho là một tiêu chuẩn thiết thực. Trong đó chỉ rõ tiêu chuẩn để đánh giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe gồm có sáu lĩnh vực hoặc khía cạnh: An toàn, hiệu quả, lấy bệnh nhân làm trung tâm, đúng lúc, hiệu suất và công bằng [146]. Tổ chức y tế Thế giới ở Châu Âu đã đưa ra mô hình PATH (PATH: Performance Assessment Tool for Quality Improvement in Hospital) để cụ thể hóa chất lượng khám chữa bệnh. Bao gồm sáu yếu tố: An toàn, bệnh nhân làm trung tâm, hiệu quả lâm sàng, hiệu suất, hướng về nhân viên và quản trị hiệu quả, [163].
Các định nghĩa trên đều có sự linh hoạt trong việc xác định chất lượng khám chữa bệnh và nó tùy thuộc vào mục đích, điều kiện hiện tại của hệ thống y tế; các định nghĩa đều đề cập tới sự kỳ vọng của nhân dân, đến tính hiệu quả - chi phí của khám chữa bệnh và hiệu quả điều trị nhằm đạt được mục đích cuối cùng là sức khỏe. Khái niệm về quản lý chất lượng khám chữa bệnh Quản lý chất lượng trong lĩnh vực khám chữa bệnh là hoạt động đảm bảo người bệnh nhận được dịch vụ chăm sóc tốt nhất. Đây là chức năng mà các cơ sở y tế cần có trách nhiệm để chăm sóc tối ưu cho người bệnh của họ. Các bệnh viện sử dụng các công cụ, mô hình quản lý chất lượng để cải thiện chất lượng khám chữa bệnh, từ đó các bác sĩ, các điều dưỡng và nhân viên y tế có thể hưởng lợi từ việc sử dụng các biện pháp cải thiện và thu được nhiều kết quả “chất lượng” hơn cho người bệnh của họ.
Quản lý chất lượng là một cách làm cho một tổ chức cải thiện liên tục những sản phẩm và dịch vụ để đạt đến hoạt động tốt hơn [14]. Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2015 “quản lý chất lượng là việc quản 5 lý các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức liên quan đến chất lượng [51]. Trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ có nhiều cách gọi khác nhau như: Chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, chất lượng khám chữa bệnh, chất lượng chăm sóc sức khỏe, chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chất lượng bệnh viện, trong nghiên cứu này chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ chất lượng khám chữa bệnh. Nghĩa là chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong bệnh viện hay cơ sở y tế.
Khám chữa bệnh trong bệnh viện có sự tham gia của 3 nhóm: Nhóm người chi trả dịch vụ, nhà cung cấp và khách hàng. Người chi trả dịch vụ là các cá nhân và tổ chức trả tiền cho các dịch vụ chăm sóc y tế trực tiếp hay gián tiếp (thân nhân người bệnh; cơ quan bảo hiểm y tế); nhà cung cấp là cá nhân hoặc tổ chức chăm sóc sức khỏe, bao gồm: Bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nhân viên hỗ trợ lâm sàng và nhân viên văn phòng; nhóm khách hàng là bệnh nhân [146]. Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập đến nhân viên y tế và bệnh nhân, thân nhân bệnh nhân. Khái niệm về lãnh đạo và quản lý một tổ chức Quản lý là làm cho mọi người làm việc có hiệu quả: Khái niệm quản lý này đề cập đến quản lý con người và điều kiện làm việc của con người.
Vấn đề đặt ra là làm sao cho mọi thành viên trong tổ chức y tế hay trong cộng đồng tùy theo chức năng, nhiệm vụ và điều kiện cụ thể đều phải làm việc theo kế hoạch một cách tích cực, có trách nhiệm để đạt được mục tiêu đề ra [61]. Quản lý là quá trình chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu cụ thể đã đề ra. Quản lý và lãnh đạo là hai thuật ngữ được sử dụng trong việc quản lý con người và xã hội. Cả hai thuật ngữ đều có nghĩa là điều khiển và tác động đến con người, đến môi trường nhưng khác nhau về mức độ và phương pháp tiến hành.
Theo Rost: Lãnh đạo và quản lý đều do chủ thể tiến hành, nhưng quản lý là nói về quyền hạn và ngược lại lãnh đạo nói về tầm ảnh hưởng hay sự cảm hóa. Khác biệt lớn nhất giữa lãnh đạo và quản lý nằm ở biện pháp thúc đẩy nhân viên. Lãnh đạo là quá trình dẫn dắt, định hướng dài hạn cho chuỗi các tác động có mục tiêu rộng hơn, xa hơn và khái quát hơn [141]. 6 Bệnh viện là một xã hội thu nhỏ, nhiều giám đốc, trưởng phó các khoa phòng và điều dưỡng trưởng nên vừa là người lãnh đạo giỏi và vừa là người quản lý giỏi.
Tuy nhiên, cũng có một số người chưa chú ý tới vai trò lãnh đạo. Người lãnh đạo thực sự phải là người truyền cảm hứng cho cấp dưới làm việc, xác định các vấn đề cần giải quyết và tạo động cơ để các bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh và các nhân viên thực thi công việc một cách có hiệu quả. Những phẩm chất của lãnh đạo là có tầm nhìn, tự tin, ủy quyền, năng lực chuyên môn, quyết đoán, biết chọn cộng sự, vì lợi ích tập thể, giao tiếp hiệu quả, công bằng và lịch thiệp. Hoạt động quản lý chất lượng khám chữa bệnh Quản lý chất lượng gồm có 3 hoạt động: Đo lường, đánh giá và cải thiện.
Những hoạt động này kết nối với nhau thành một chu trình đo lường, đánh giá, và cải thiện và chu trình quản lý chất lượng sẽ được tiến hành liên tục [146]. Đo lường Chúng ta đang làm như thế nào? Có Đánh giá Chúng ta có đang đáp ứng những mong đợi? Không Cải thiện Chúng ta làm thế nào để cải thiện hoạt động? Sơ đồ 1. Chu trình đo lường, đánh giá và cải thiện Hoạt động đo lường là để tập hợp những thông tin về chất lượng khám chữa bệnh và những chức năng hỗ trợ. Mục đích của hoạt động này là để thấy được chất lượng khám chữa bệnh đang ở mức nào, nó thay đổi như thế nào theo thời gian.
Kết quả trong bước đánh giá là so sánh dữ liệu được đo lường với những mong đợi về chất lượng khám chữa bệnh. Nếu những mong đợi được đáp ứng, bệnh viện tiếp tục đo lường và đánh giá việc thực hiện. Nếu mong đợi không được đáp ứng, bệnh viện tiếp tục đến quá trình cải thiện. Hoạt động cải thiện là lập kế hoạch và thay đổi chất lượng khám chữa bệnh 7 hiện tại nhằm đạt những mong đợi về chất lượng khám chữa bệnh.
MỘT SỐ HỌC THUYẾT CƠ BẢN VỀ LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ ĐƯỢC ỨNG DỤNG TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KHÁM CHỮA BỆNH 1. Quản lý sự thay đổi Thay đổi là một yếu tố quan trọng liên quan đến sự thành bại của việc lãnh đạo, quản lý. Nếu không nhanh chóng thích ứng với sự thay đổi, tổ chức khó có thể đứng vững và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ. Lý thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu được sắp xếp theo một trình tự ưu tiên từ thấp đến cao về tầm quan trọng.
Tháp nhu cầu 8 bậc của Abraham Maslow Năm 1943, Maslow chia các nhu cầu của con người thành 5 bậc từ cấp cao đến cấp thấp: Nhu cầu cơ bản; nhu cầu an toàn; nhu cầu xã hội; nhu cầu được quý trọng; nhu cầu được thể hiện mình. Sự khác biệt giữa nhu cầu cấp cao và nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài, trong khi các nhu cầu cấp cao lại được thỏa mãn chủ yếu là từ nội tại của con người [128]. Sau đó, vào những năm 1970 và 1990, tháp nhu cầu Maslow 5 bậc đã được Maslow hiệu chỉnh thành 7 bậc và cuối cùng là 8 bậc, ông đã bổ sung thêm nhu cầu về nhận thức, thẩm mỹ và sự siêu nghiệm [127].