PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chúng ta biết rằng, mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới trong gia đình có ý nghĩa quan trọng và có tính chất đặc biệt. Đó là quan hệ tình cảm, mang tính riêng tƣ diễn ra trong cuộc sống hàng ngày giữa vợ và chồng, lại mang tính xã hội sâu sắc, rộng lớn. Nói đến mối quan hệ giữa hai giới là nói đến trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của nam giới và nữ giới.
Ngoài ra, nó cũng thể hiện vị trí, vai trò và địa vị xã hội của mình một cách công bằng và ngang nhau về cơ hội yếu tố giới luôn đƣợc thể hiện ở tất cả các hoạt động. Trong lịch sử loài ngƣời, thì đây là loại hình phân công lao động xuất hiện sớm nhất, phản ánh bản chất mối quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới cũng nhƣ trình độ phát triển kinh tế xã hội của các xã hội khác nhau. Trong những thập kỷ qua, vấn đề này đã thu hút nhiều tác giả nghiên cứu, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu chính sách. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong phân công lao động trên thế giới, nhƣng chủ yếu chỉ nghiên cứu về thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình mà chƣa đề cặp đến góc nhìn về công tác xã hội.
Theo Công ƣớc loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CADEW) [38] chỉ ra gánh nặng của phụ nữ phải chịu trung bình từ các nƣớc đang phát triển là 53% và các nƣớc công nghiệp đang phát triển là 51%. Song, chỉ có tổng số thời gian lao động của nam giới và nữ giới là thuộc về kinh tế, nữa kia là lao động trong gia đình hoặc các hoạt động trong cộng đồng mà trong đó thƣờng là hoạt động nội trợ và chăm sóc con cái mà phụ nữ phải đảm nhiệm. Xã hội Việt Nam, ngƣời phụ nữ đƣợc ví “là cái sân sau, là ngƣời nâng khăn sửa túi cho chồng” cộng với tƣ tƣởng nho giáo “trọng nam khinh nữ” đã nhen nhóm trong tƣ tƣởng của ngƣời dân, khiến cho ngƣời phụ nữ ngày càng bị bó hẹp trong câu “Tam tòng, tứ đức”, gáng cho họ những công việc nhƣ nuôi con, chăm sóc, dạy dỗ con cái và nội trợ mà giảm dần đi thời gian vui chơi, giải trí, những hoạt động ngoài xã hội. Công tác xã hội là một ngành khoa học ứng dụng mới có tại Việt Nam, trong đó nhân viên công tác xã hội đóng vai trò chính, cần hội tụ đủ những yếu tố về kiến thức, kỹ năng của bản thân để hỗ trợ cá nhân, gia đình, cộng đồng yếu thế nhằm giúp họ nâng cao năng lực, phát huy những tiềm năng hiện có để vƣơn lên trong cuộc sống.
Mà phụ nữ đang là nạn nhân của bất bình đẳng giới và cũng là đối tƣợng của công tác xã hội. Tại tỉnh Bến Tre công tác thực hiện bình đẳng giới, đặc biệt là việc bình đẳng giới trong lĩnh vực phân công lao động trong gia đình ngày càng đƣợc nâng cao bởi 1 trình độ học vấn cũng nhƣ chất lƣợng cuộc sống ổn định hơn. Song, bên cạnh đó vẫn tồn tại khá nhiều những bất cập. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của ngƣời dân vẫn ảnh hƣởng bởi lối tƣ tƣởng và quan niệm cũ.
Tính đến thời điểm hiện tại tỉnh Bến Tre chƣa có một công trình nghiên cứu nào về vấn nâng cao nhận thức cho gia đình trong việc phân công lao động theo giới theo hƣớng tiếp cận công tác xã hội. Chủ yếu nâng cao nhận thức của ngƣời dân về bình đẳng giới thông qua truyền thông và tập huấn. Trên thực tế, các nghiên cứu về bình đẳng giới chủ yếu dựa trên nghiên cứu xã hội học và đƣa ra kết quả của thực trạng bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình. Trên phƣơng diện công tác xã hội, có rất ít các công trình nghiên cứu về bình đẳng giới hoặc có nhƣng khách thể nghiên cứu của họ chủ yếu là bình đẳng giới trong doanh nghiệp, chính trị…Hơn nữa, cũng chƣa có công trình nghiên cứu nào ứng dụng phƣơng pháp công tác xã hội nhằm nâng cao nhận thức cho gia đình trong việc phân công lao động theo giới.
Trong gia đình và xã hội, sự phân công lao động hợp lý chính alf cơ sở xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp, gìn giữ hạnh phúc và hƣớng đến bình đẳng bền vững, khi gia đình hạnh phúc, có bình đẳng thì xã hội sẽ hạnh phúc và bình đẳng, bởi xã gia đình là hạt nhân của xã hội. Vì vậy, việc thay đổi nhận thức về bình đẳng giới trong phân công lao động trong các gia đình là vấn đề mang ý nghĩa hết sức sâu sắc về kinh tế, văn hóa, chính trị. Chính từ những lý do đó nên tác giả đã chọn đề tài “Công tác xã hội nhóm nhằm nâng cao nhận thức cho gia đình trong việc phân công lao động theo giới tại tỉnh Bến Tre”. Tổng quan các công trình nghiên cứu 2.
Nghiên cứu trên thế giới Liên quan đến giới, bất bình đẳng giới và phân công lao động theo giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về phân công lao động theo giới trong gia đình, các nghiên cứu chủ yếu nghiên cứu về thực trạng và vai trò của ngƣời phụ nữ trong gia đình. Thực tế, còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu về công tác xã hội trong lĩnh vực bình đẳng giới trong phân công lao động. Thời gian vừa qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình và các lĩnh vực có liên quan. Một số công trình tiêu biểu nhƣ: Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” (Engels, 1880) [31].
Là một trong những công trình nghiên cứu về sự phân công lao động theo giới khá sớm. Dựa theo trƣờng phái duy vật lịch sử, tác giả đã đã gắn các hình thức sở hữu tƣ liệu sản xuất với việc phân công lao động, trong đó ngƣời nào 2 nắm hgiuwx tƣ liệu sản xuất ngƣời đó có quyền đƣa ra các quyết định trong phân công lao động gia đình và xã hội. Tác phẩm “Giới tính thứ hai” (Simone De Beauvoir, 1949) [37]. Tác giả đã đƣa ra các dẫn chứng giải thích cho nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng nam, nữ, trong đó vị thế ngƣời phụ nữ đƣợc xem là “địa vị hạng hai”, từ đó đấu tranh cho việc bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội.
Tác phẩm “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế” (Boserup, 1970) [29]. Nghiên cứu đã làm thay đổi nhận thức về phân công lao động theo giới của con ngƣời. “Bà đã xác định một cách có hệ thống và ở phạm vi thế giới trong các nền kinh tế nông nghiệp” những đóng góp của bà đã làm sáng tỏ hơn bức tranh về phân công lao động theo giới thông qua việc phân tích và khẳng định vai trò của ngƣời phụ nữ trong các nƣớc thuộc thế giới thứ ba, đặc biệt sản xuất lƣơng thực, thực phẩm cho toàn thế giới. Đề tài “Công việc của phụ nữ - Sự phát triển và phân công lao động theo giới”, E.Safa và những ngƣời khác (1986) [38].
Đề tài đã làm sáng tỏ những kết luận của Boserup về phân công lao động theo giới và vai trò của phụ nữ trong thế giới thứ ba. Ngoài ra, những nghiên cứu của họ đã mở rộng để xem xét sự phân công lao động theo giới cả trong xã hội nông nghiệp và xã hội công nghiệp. Các tác giả đã chứng minh trong xã hội nông nghiệp hay xã hội chủ nghĩa thì ngƣời phụ nữ lại đặt gánh nặng của hoạt động tái sản xuất ngoài hoạt động sản xuất để kiếm sống, làm cho họ phải lao động quá sức. Tại sao việc nhà vẫn là “việc của phụ nữ”? Một số học giả cho rằng sự phụ thuộc kinh tế buộc các bà vợ phải đánh đổi sức lao động không đƣợc trả công để lấy một phần thu nhập của ngƣời chồng.
Những ngƣời khác cho rằng những ngƣời vợ thực hiện công việc nhà - và những ngƣời chồng tránh làm điều đó để thể hiện sự nữ tính hoặc nam tính của họ một cách tƣợng trƣng. Bài báo này xem xét cả hai khía cạnh và phát hiện ra rằng giữa các bà vợ, mối liên hệ giữa việc nhà và việc chuyển giao thu nhập trong hôn nhân tuân theo các quy tắc trao đổi kinh tế. Tuy nhiên, ngƣời chồng càng dựa vào vợ để hỗ trợ kinh tế thì việc nhà càng ít. Có vẻ nhƣ do ít làm việc nhà hơn, những ngƣời chồng phụ thuộc kinh tế cũng “chuyển giới”.
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả về phân công lao động theo giới ở gia đình Việt Nam thì phụ nữ vẫn giữ vai trò chính trong việc chăm sóc con cái, nội trợ mặc dù 3 sự tham gia của nam giới đang ở mức tăng lên theo ba thời kỳ là: thời chiến (83- 85%), thời thống nhất đất nƣớc (83,7-85%) và thời kì đổi mới (81-84%). Nghiên cứu “Division Of Labor – Contemporary Divisions Of Labor” với nội dung phân công lao động đƣơng đại ở Mỹ, tác giả cho rằng “Ngƣời chồng họ chỉ đóng góp 2 giờ/tuần với nhiệm vụ là nội trợ, trong khi đó ngƣời vợ 25 giờ/tuần”. Đối với Coltrane cho rằng “Nghiên cứu thấy ra rằng sử dụng phụ nữ làm việc nhà ít hơn trƣớc và những ngƣời đàn ông làm nhiều thêm một chút. Tuy nhiên, ngƣời phụ nữ đã lập gia đình ở Hoa Kỳ đã làm khoảng 3 lần so với công việc nội trợ vào những năm 1990 khi ngƣời đàn ông đã kết hôn trung bình.
Công việc gia đình vẫn đƣợc phân chia theo giới tính, phụ nữ thì lặp đi lặp lại những công việc trong gia đình và những ngƣời đàn ông thì làm những công việc ngoài trời”. [47] Nhằm phân tích tác động của chính sách xã hội liên quan đến việc làm của phụ nữ và xung đột giữa công việc và gia đình đối với sự phân công lao động hộ gia đình ở 33 quốc gia. Một nhóm tác giả đã phân loại các chính sách theo sự bình đẳng về tiếp cận của Chang’s (2000) (hành động khẳng định và không có chính sách phân biệt đối xử) và lợi ích thực chất (dịch vụ nghỉ phép của cha mẹ và chăm sóc con cái). Kết quả cho thấy rằng các quốc gia không có quy định cấm đối với một số loại việc làm dành cho phụ nữ và những quốc gia có chính sách nghỉ việc cho cha mẹ dài hơn, thể hiện sự phân chia công việc nhà theo giới bình đẳng hơn.