CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI. Một số khái niệm về bình đẳng giới 1. Khái niệm giới Giới là một khái niệm mang nghĩa rộng với nhiều quan điểm, và nội hàm khái niệm khác nhau. Bên cạnh khái niệm về Giới, từ thực tiễn áp dụng pháp luật, tác giả nhận thấy rằng thường xuyên có sự nhầm lẫn hoặc sử dụng sai khái niệm Giới và khái niệm Giới tính dù đây là hai khái niệm khác nhau • • ụ • cơ bản về nội hàm.
Để làm rõ khái niệm Giới, tác giả lựa chọn cách tiếp cận là so sánh song song khái niệm Giới và khái niệm Giới tính để người đọc có thể thông qua việc so sánh nội hàm giữa hai khái niệm mà hiểu được rõ hơn nội hàm của khái niệm Giới. Theo định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt: “Giới là lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rẩt chung nào đó về nghề nghiệp, địa vị xã hội, v. Khái niệm Giới cũng được định nghĩa bời các nhà nghiên cứu chính trị và xã hội học lại cho rằng “Giới là một khái niệm khoa học ra đời từ môn Nhân loại học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội. Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hôi quan niệm hay quy định cho nam và nữ.
Như vậy, dưới học độ văn hóa - xã hội, ta có thể nhận thấy rất rõ sự khác biệt giữa Giới và Giới tính. Trong khi Giới tính chỉ những đặc điểm chung để phân biệt giữa nam và nữ (thông thường là thông qua các đặc điểm về sinh học, cấu tạo cơ thể, hoặc các thói quen, vai trò mà xuất phát từ chính 1 Hoàng Phê (2021), tlđd, Tr. 2 Trịnh Quốc Tuấn, Đồ Thị Thạch (đàng chủ biên) (2008), Khoa học giới, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị - Hàng chính, Hà Nội, Trang 29 10 những đặc điểm đó như: nam giới với đặc điểm cơ bắp thường phù hợp để làm việc nặng, còn nữ giới có tính tỉ mỉ, phù hợp với các công việc cần sự tinh xảo và ít phải sử dụng cơ bắp hơn). Trong khi đó, khái niệm Giới hướng tới việc phân biệt giới nam và giới nữ dưới góc độ xã hội, không có sự liên quan trực tiếp nhiều đến yếu tố sinh học.
Theo định nghĩa của Bộ Y tế theo Quyết định 5859/QĐ-BYT về khái niệm giới tính quy định: [Giới tính chi sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, có sẵn từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi (trừ trường họp có sự can thiệt của y học] Cũng tại Quyết định 5859/QĐ-BYT, Bộ Y Tế đã định nghĩa rằng “Giới không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá trĩnh sống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đen lúc trưởng thành. Nói cách khác, giới được thê hiện thông qua các hành vi được hình thành từ sự dạy dỗ và thu nhận từ gia đình, cộng đồng và xã hội, là vị trí, vai trò của nam và nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng ở phụ nữ và nam giới liên quan đến các đặc điếm và năng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định Từ hai khái niệm trên có thế dễ dàng nhận thấy rằng trong khi giới tính mang tính sinh học đặc trưng, có sẵn khi sinh ra (tức là bẩm sinh) còn khái niệm Giới không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá trình sống của mỗi người. Đe người đọc dễ dàng phân biệt giữa hai khái niệm này, tác giả trích dẫn bảng so sánh được Bộ y tế đề cập trong Quyết định 5859/QĐ-BYT: Giói tính Giói • điềm sinh học Đặc • khác nhau Cách ứng xử, vai trò, hành vi mà xã hội giữa nam và nữ (sinh ra đã có) mong đợi ở nam và nữ (không phải sinh ra 3 Quyết định 5859/ỌĐ-BYT ban hành Bộ công cụ đào tạo cho cán bộ y tế triển khai thực hiện Thông tư số 24/2017/TT-BYT, Trang 5 đã có mà là một quá trình hình thành bởi xã hội) Con người được dạy và phải học về các Con người sinh ra đã thuộc về vai trò giới trong quá trình trưởng thành, một giới tính nhất định và không giao tiếp xã hội. Điều này có thể thay đổi thay đổi theo thời gian theo thời gian.
Giới tính của một người ở nơi Giới và vai trò giới khác nhau theo phong nào cũng vậy tục tập quán, theo vùng và thời gian Khó hoặc không thay đổi được Có thể thay đổi theo thời gian Trong Dự thảo Luật chuyển đồi giới tính, khái niệm “nam” và “nữ” cũng được gắn với yếu tố sinh học, cụ thể dự thảo đã quy định tại khoản 4 Điều 2 Dự thảo Luật chuyển đổi giới tính “4. Giới là giới tính khi sinh của một người đã được xác định là nam hay nữ dựa trên sự hoàn chỉnh về cả nhiễm sắc thể, cơ quan sinh dục trong và bộ phận sinh dục ngoài Theo quan điểm của tác giả, tác giả định nghĩa giới như sau và áp dụng khái niệm này xuyên suốt quá trình nghiên cứu luận văn. “Giới là một khải niệm tông quát đế chi những đặc trưng xã hội của nam và nữ”. Hoặc có thể sử dụng khái niệm “nam giới” và “nữgiới”; hoặc có thể sử dụng khái niệm “người NLĐ nam” và “người NLĐ nữ”, khi để diễn tả sự khác biệt về giới trong lĩnh vực NLĐ.
Từ định nghĩa trên, khái niệm Giới có các đặc điểm sau: Thứ nhất, giới là một khái niệm có tính đa dạng và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan như văn hóa vùng miền, tôn giáo, sự nhận thức. Những yếu tố khách quan có rất nhiều tác động đến việc hình thành nên sự nhận thức về tính đúng đắn của hành vi, tác động trực tiếp đến hành vi, phong cách của mồi người. Từ những đặc điểm đó đã phân nhũng nhóm người có đặc điểm chung thành những nhóm giới giống nhau. Có thể lấy ví dụ ở một số 12 quôc gia Hôi giáo, phụ nữ chỉ ở trong nhà làm việc nhà, phải che kín mặt còn nam giới thì ra ngoài NLĐ.
Rõ ràng tôn giáo (cụ thể là Hồi giáo) đã tác động đến hành vi, vị trí xã hội của con người trong xã hội. Thứ hai, tính có thể thay đổi được. Xuất phát từ đặc điểm thứ nhất rằng đặc điếm của khái niệm Giới có tính đa dạng và chịu tác động nhiều từ các yếu tố khách quan. Vì vậy, khi các yếu tố khách quan thay đổi cũng dẫn đến sự thay đổi về khái niệm giới.
Điều này thể hiện rất rõ ở các triều đại Phong Kiến trước đây, nữ giới không được phép tham gia khoa cử, không được tham gia vào các vị trí quản lý nhà nước. Thứ ba, giới không mang tính di truyền mà chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện xã hội. Giới được hình thành từ các quan điểm xã hội chứ không được hình thành bởi cấu tạo sinh học. Nói cách khác, giới là một “sản phẩm” của xã hội.
Khi nghiên cứu về khái niệm giới, không thể bỏ qua sự vai trò của giới đối với xã hội, bởi lẽ giới là một khái niệm có tính xã hội, được sinh ra bởi xã hội nên nó có ý nghĩa nhất định và gắn liền với xã hội: Nam giới và nữ giới thường có ba vai trò đối với xã hội như sau: Một là, vai trò lao động sản xuất: Là những công việc do nam giới hoặc nữ giới làm nhằm mục đích tạo ra thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật4. Cuộc sống của con người trong xã hội phải gắn liền với hoạt động lao động. Bởi lẽ, lao động là tiền đề để tạo ra hàng hóa và dịch vụ để duy trì cuộc sống của con người. Chính vì vậy, cả giới nam và giới nữ đều phải tham gia lao động để tạo ra giá trị cho xã hội.
Tùy thuộc vào khu vực địa lý, tính chất xã hội, tôn giáo, đặc điểm tự nhiên mà vai trò của mỗi giới trong xã hội này khác nhau. Hai là, vai trò duy trì nòi giống như các hoạt động sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ sau. những hoạt động này là tiền đề để duy trì 4 Phùng Ngọc Vinh (2019) Bình đăng giới trong lĩnh vực lao đọng và an sinh xã hội Việt Nam, luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, trang 12. 13 sự tiêp nôi trong xã hội.
Dưới góc độ lao động, việc sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ sau là những công việc quan trọng để duy trì sự ồn định, nâng cao chất lượng của lực lượng lao động kế cận. Ở thời kỳ phong kiến lạc hậu, việc sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái không trực tiếp tạo ra những giá trị nhãn tiền dẫn đến việc giá trị của giới nữ thường bị xem nhẹ hon nam giới - là những người trực tiếp chịu trách nhiệm về lao động, tạo ra thu nhập, của cải. Tuy nhiên, ở xã hội hiện đại, từ bài học các các quốc gia có cơ cấu dân số già thì sự nhận thức của nhân loại tiến bộ về vai trò sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cái được đề cao, cùng với đó là sự nâng cao vai trò của giới nữ trong xã hội. Ba là, vai trò xã hội: là những công việc do nam giới hoặc nữ giới thực hiện ở cấp độ cộng đồng (làng, xã, .) nhằm đáp ứng những nhu cầu chung của chính cộng đồng đó như xây dựng các công trình sinh hoạt chung, giữ gìn vệ sinh công cộng,.
Các hoạt động này có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập, duy trì và phát huy những giá trị vật chất và tinh thần của cộng đồng. Giới nam và giới nữ đều có khả năng tham gia vào ba vai trò nói trên. Sự tham gia của giới nam và giới nữ có thế khác nhau về mức độ, cách thức ở từng vai trò. Sự khác biệt về vai trò này xuất phát từ chính sự khác biệt về đặc điểm sinh lý, sự kỳ vọng của xã hội đối với mỗi giới ở mồi vai trò là khác nhau, tôn giáo, văn hóa truyền thống.
Khái niệm bình đẳng giới Bình đẳng giới là một khái niệm mới xuất hiện và phồ biến ở xã hội hiện đại. Sự hình thành và phố biến khái niệm bình đẳng giới là thành quả của quá trình đấu tranh lâu dài phá bỏ những định kiến của xã hội về tình trạng “Trọng nam, khinh nữ”.