phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2. Thiết kế các hoạt động dạy học phần phi kim Hoá học 10,11 nhằm nâng cao nhận thức về môi trƣờng cho học sinh Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Từ năm 1981, giáo dục môi trƣờng đã đƣợc đƣa vào chƣơng trình THPT [10]. Từ đó đến nay, vấn đề này vẫn luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của các giáo viên và nhà giáo dục học. Nhiều bài báo khoa học, dự án đã đóng góp kết quả nghiên cứu vào sự phát triển không ngừng của công cuộc giáo dục môi trƣờng cho HS các cấp.
Trong các chƣơng trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, dự án “Giáo dục Môi trƣờng VIE 98/018” là nổi bật nhất với nhiều kết quả tích cực trong việc tập huấn cho GV và đề xuất các mô-đun giáo dục môi trƣờng trong các môn học ở trƣờng THPT. Các mô-đun này mang tính khái quát, không đƣa ra những phƣơng án ứng dụng cụ thể và cần phải điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cơ sở của các đơn vị đào tạo khác nhau. Tác giả Đặng Thị Oanh và các cộng sự đã Sử dụng phương pháp đóng vai trong giáo dục môi trường thông qua môn Hóa học (Tạp chí Khoa học trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội), Xây dựng chương trình Giáo dục môi trường thông qua dạy học môn Hóa học ở phổ thông (Hội nghị Môi trƣờng toàn quốc) [11, 15, 16]. Những nghiên cứu này đã cho thấy tầm quan trọng của việc lồng ghép các nội dung BVMT trong các hoạt động giảng dạy Hóa học ở trƣờng phổ thông.
Một số luận văn tiêu biểu của khoa Giáo dục học trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội nghiên cứu tích hợp giáo dục môi trƣờng thông qua môn Hóa học nhƣ là luận văn “Xây dựng và sử dụng hệ thống tƣ liệu về môi trƣờng dùng trong dạy học Hóa học hữu cơ lớp 12 ở trƣờng THPT” của Nguyễn Thị Quỳnh Anh (năm 2012) [1], luận văn “Giáo dục môi trƣờng thông qua dạy học Hóa học lớp 10, 11 ở trƣờng THPT” của Trần Thị Hồng Châu (năm 2010) [2], luận văn “Tích hợp giáo dục môi trƣờng thông qua hệ thống bài tập thực tiễn chƣơng Nito-Photpho, Cacbon-Silic” của Hoàng Thị Thùy Dƣơng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các luận văn về giáo dục BVMT của khoa Sƣ phạm Hóa học trƣờng Đại học Giáo dục (Đại học Quốc Gia Hà Nội) bao gồm luận văn “Tích hợp giáo dục môi trƣờng cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học phần dẫn xuất của hidrocacbon – Hóa học lớp 11” của Trần Thị Hƣờng (năm 2015) [10], luận văn “Dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trƣờng thông qua phần Hóa học hữu cơ lớp 9 ở trƣờng trung học cơ sở” của Bùi Thị Thủy (năm 2016) [17], luận văn “Giáo dục môi trƣờng thông qua dạy học dự án chƣơng nhóm Cacbon – Hóa học 11 nâng cao” của Nguyễn Thị Thu Hằng (năm 2015) [9]. Các luận văn này đã tuyển chọn, xây dựng các bài tập Hóa học có nội dung liên quan đến môi trƣờng, thiết kế các hoạt động dạy học giúp HS vận dụng đƣợc kiến thức trong chƣơng trình phổ thông để giải thích một số vấn đề ô nhiễm. Như vậy, làm thế nào để nâng cao nhận thức của HS về môi trường, từ đó phát huycác hoạt động tích cực trong đời sống hằng ngày, những ý tưởng sáng tạo và dự án khoa học nhằm BVMT, là một vấn đề mới mẻ và cấp thiết trong nghiên cứu.
Cơ sở khoa học về nhận thức 1. Khái niệm nhận thức Nhận thức là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các quy trình nhƣ là tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ƣớc lƣợng, sự lí luận, sự tính toán, việc giải quyết vấn đề, việc đƣa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ [23]. Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức phản 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con ngƣời, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn [22] Sự nhận thức của con ngƣời vừa ý thức, vừa vô thức, vừa cụ thể, vừa trừu tƣợng và mang tính trực giác. Quá trình nhận thức sử dụng tri thức có sẵn và tạo ra tri thức mới [23].
Các giai đoạn của nhận thức Theo quan điểm của phép tƣ duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con ngƣời đi từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng, và từ tƣ duy trừu tƣợng đến thực tiễn. Con đƣờng nhận thức đó đƣợc thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tƣợng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong [22]. Giai đoạn 1: Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) Trong giai đoạn này, con ngƣời sử dụng các giác quan đểnắm bắt các thông tin của sự vật dựa trên 3 hình thức là cảm giác, tri giác và biểu tƣợng. Trong 3 hình thức kể trên, cảm giác xuất hiện đầu tiên và là nơi bắt nguồn của tri thức.
Cảm giác là sự phản ánh từng mặt, từng thuộc tính bên ngoài của sự vật vào các giác quan của con ngƣời, khi sự vật, hiện tƣợng tác động trực tiếp vào các giác quan con ngƣời thì gây nên cảm giác (ví dụ nhƣ màu sắc, mùi vị, âm thanh, ánh sáng, nhiệt độ…). Tri giác đƣợc tổng hợp nên từ các loại cảm giác, mang đến hình ảnh đầy đủ hơn về sự vật. Nói cách khác, tri giác ở nấc cao hơn trong các loại hình nhận thức cảm tính. Giai đoạn 2: Nhận thức lý tính (hay còn gọi là tƣ duy trừu tƣợng) Dựa trên cơ sở nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính đƣợc hình thành.
Nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con ngƣời sẽ rất hạn chế, bởi vì những cái nhƣ tính chất vật lý của vật chất, sự biến đổi của vật chất,… con ngƣời không thể bằng cảm giác mà hiểu đƣợc, do đó phải cần đến tƣ duy trừu tƣợng. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tƣ duy trừu tƣợng phản ánh khái quát và gián tiếp các sự vật, mô tả những mối liên hệ bản chất bên trong sự vật, và do đó phản ánh sự vật một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn. Tƣ duy phải gắn liền với ngôn ngữ, trong đó có thể coi ngôn ngữ là vỏ bao ngoài của tƣ duy. Ngoài ra, tƣ duy còn có tính năng động và sáng tạo.
Nhận thức lý tính, hay còn gọi là tƣ duy trừu tƣợng, đƣợc thể hiện ở các hình thức nhƣ khái niệm, phán đoán và suy luận. Cụ thể, để tƣ duy, con ngƣời phải sử dụng các phép so sánh, phân tích, tổng hợp, khái niệm hoá, trừu tƣợng hoá,. Giai đoạn 3: Nhận thức trở về thực tiễn. Đây là giai đoạn con ngƣời kiểm nghiệm lại tri thức đã tiếp thu đúng hay sai [23] với mục đích cuối cùng của tri thức là cải tạo thế giới, không chỉ dừng lại ở việc phản ánh, giải thích thế giới.
Do đó, nhận thức trở về thực tiễn là giai đoạn cao nhất của nhận thức, có chức năng định hƣớng thực tiễn. Các trình độ nhận thức - Dựa vào trình độ thâm nhập vào bản chất của đối tƣợng mà nhận thức đƣợc chia thành hai loại, nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận [22]. Nhận thức kinh nghiệm là trình độ nhận thức đƣợc hình thành thông qua quan sát trực thế giới xung quanh, vì vậy kết quả của trình độ này là những tri thức kinh nghiệm. Nhận thức lý luận là trình độ nhận thức gián tiếp, trừu tƣợng, có tính hệ thống và có tính khái quát về bản chất của sự vật, hiện tƣợng và mối quan hệ của chúng với thế giới khách quan.
- Dựa vào tính tự phát hay tự giác của sự thâm nhập vào bản chất của sự vật mà nhận thức đƣợc phân loại thành nhận thức thông thƣờng và nhận thức khoa học [22]. Nhận thức tiền khoa học (nhận thức thông thƣờng) đƣợc hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com con ngƣời. Nó phản ánh thế giới khách quan một cách chi tiết, cụ thể, đầy đủ các sắc thái. Do đó, nhận thức thông thƣờng phong phú và thực tế, thƣờng xuyên chi phối hoạt động của con ngƣời trong xã hội.
Nhận thức khoa học đƣợc hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh về các sự vật, hiện tƣợng, vì vậy nó có tính khách quan trừu tƣợng, khái quát, hệ thống, có tính căn cứ và tính chân thực. Nhận thức khoa học đòi hỏi sự vận dụng hệ thống các phƣơng pháp nghiên cứu và ngôn ngữ thông thƣờng cũng nhƣ thuật ngữ khoa học để mô tả bản chất và quy luật của đối tƣợng nghiên cứu. Vì lẽ đó, nhận thức khoa học đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong thời đại của khoa học và công nghệ [23]. Giáo dục nâng cao nhận thức về môi trƣờng cho học sinh trung học phổ thông 1.
Đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh trung học phổ thông Lứa tuổi THPT (15-18 tuổi) là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ. Lúc này, cơ thể con ngƣời đã đƣợc hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ.Có thể nói tiềm năng về trí tuệ đạt mức cao nhất, tính chủ định đƣợc phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức[11]. Cảm giác hay tri giác của thanh thiếu niên đã đạt tới mức độ trƣởng thành. Quá trình quan sát gắn liền với tƣ duy và ngôn ngữ.
Tuy nhiên, sự quan sát của HS THPT thƣờng không tập trung, vì vậy sự quan sát vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện và không thực tế. Trí nhớ con ngƣời lứa tuổi thanh thiếu niên cũng phát triển rõ rệt và giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ. HS đã biết sắp xếp và ghi nhớ các kiến thức một cách khoa học và có trật tự riêng. Các em có thể đọc văn bản dài và rút ra những điểm chính, xác định đƣợc các ý kiến quan trọng, trọng tâm, có thể phân tích, tổng hợp, so sánh thông tin trong nhiều tài liệu.
Đặc biệt, các 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.