CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀCƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNGCỦA NHÂN VIÊN TÍN DỤNG Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về năng suất lao động Sách và bài báo khoa học về năng suất lao động ở nước ta rất nhiều song nếu muốn tìm một cuốn sách khoa học cơ bản về lĩnh vực năng suất lao động trong lĩnh vực ngân hàng, cụ thể là lĩnh vực tín dụng không dễ. Sách về năng suất thường chỉ bàn về vị trí, vai trò của năng suất lao động đối với xã hội.
Sách về quản trị chuyên môn, nghiệp vụ hay một loại công việc cụ thể như quản trị nhân sự, quản trị tài chính, quản trị chiến lược, quản trị sản xuất, quản trị chất lượng, quản trị marketing…Trong cả hai loại sách khoa học kể trên có nhiều quyển đã trình bày nội dung các tư tưởng, lý luận về năng suất lao động trong khuôn khổ một chương hoặc một tiết, mục, bài. Sau đây, tác giả chủ yếu tập trung vào hai loại chính: (1) các công trình nghiên cứu năng suất lao động nói chung; (2) các công trình nghiên cứu từ cách tiếp cận và quan điểm về hiệu quả trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng. Các nghiên cứu định tính của các nhà kinh tế học trên thế giới về năng suất lao động: Trong lý thuyết về giá trị lao động, các nhà kinh tế trong lịch sử như các nhà kinh tế học trường phái cổ điển (Adam Smith, D. Ricardo), Các- Mác, trường phái tân cổ điển, Keynes…Các lý thuyết này đều đã hình thành nên khái niệm về giá trị lao động, vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị của hàng hóa.
Đặc biệt, lý thuyết của C. Mác còn chỉ ra lượng giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động. Lượng giá trị hàng hóa tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động (năng suất lao động). Sức sản xuất của lao động càng lớn thì thời gian lao động xã hội cần 6 thiế để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó càng ít, giá trị của nó càng nhỏ.
Sự thay đổi của sức sản xuất làm tăng thêm hiệu quả của lao động và do đó làm tăng thêm khối lượng những giá trị sử dụng do lao động đó cung cấp, vì vậy làm giảm bớt đại lượng giá trị của tổng khối lượng đã tăng lên đó. Sức sản xuất của lao động trong một lĩnh vực cụ thể được quyết định bởi những nhân tố khác nhau như: Trình độ khéo léo trung bình của người lao động, mức độ, trình độ phát triển khoa học và sự áp dụng khoa học vào quy trình công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất, điều kiện tự nhiên… Các nghiên cứu định lượng của các nhà khoa học trên thế giới về năng suất lao động Năm 1974, Mr.Ramsay giới thiệu hệ thống RAPMODS cung cấp một cách tiếp cận để đáp ứng nhu cầu đo lường năng suất, dự thảo ngân sách tài chính kết hợp với những mục tiêu năng suất được họach định để cải tiến năng suất của doanh nghiệp. Hệ thống này đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia khác nhau. Hệ thống RAPMODS đưa ra không chỉ các công thức tính toán các chỉ tiêu năng suất (chủ yếu gồm 2 hình thức biểu hiện của năng suất là mức năng suất và chỉ số năng suất) mà còn đưa ra các công thức tính toán tương đương, trong đó thể hiện được mối quan hệ của các yếu tố thành phần (của đầu vào và đầu ra).
Từ đây, khi thay đổi bất kỳ một yếu tố nào, ta có thể dự báo được thay đổi của các yếu tố còn lại, và cũng có thể kiểm soát được dự thảo mục tiêu và thực tế thực hiện. Từ đó cho phép quản lý năng suất được tốt hơn. Có thể coi hệ thống RAPMODS gồm 2 nhóm chỉ tiêu và 03 quy tắc được áp dụng rộng rãi cho bất kỳ lọai hình doanh nghiệp kinh tế nào. Phương pháp Rapmods không chỉ đưa ra 1 phương pháp đo lường năng suất, hơn thế nữa, nó còn cung cấp một phương pháp làm thế nào hoạch định từ mục tiêu 7 năng suất chung (RSO, ROI, TCE, TPM…) cho đến cân nhắc-lựa chọn các mục tiêu năng suất yếu tố cần đến bao nhiêu yếu tố đầu vào.
Thông qua giám sát kết qủa thực tế để so sánh với mục tiêu dự tính cho phép hoạch định các yếu tố đầu vào một cách thích hợp nhất để đạt mục tiêu đầu ra. Phương pháp này áp dụng khá hiệu quả đối với các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, tuy nhiên, khi áp dụng lại gặp khó khăn trong lĩnh vực tín dụng do đặc thù khi phải sử dụng nhiều kĩ năng mềm thay vì những kỹ thuật trong các nhà máy sản xuất. Tăng trưởng năng suất được cũng được đề cập đến trong nghiên cứu của Alwyn Young (1992, 1995) va Paul Krugman (1994) lập luận rằng, tăng trưởng kinh tế ở châu Á được thúc đẩy bởi sự tích tụ của các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất chứ không phải do tăng năng suất lao động. Nói cách khác, họ cho rằng, phép lạ kinh tế của châu Á chủ yếu là do gia tăng số lượng và không phải chất lượng của yếu tố sản xuất.
Các phân tích thêm và các bằng chứng cho thấy rằng khi các nước trở nên phát triển hơn và di chuyển gần hơn đến giới hạn của các yếu tố trên, họ dựa nhiều hơn vào năng suất để duy trì sự tăng trưởng kinh tế trong suốt quá trình. Trong tác phẩm Productivity Growth:Theory and Measurement, David T. Owyong (1998) đã chỉ ra vai trò, tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ trong tính toán năng suất nói chung và năng suất lao động nói riêng. Trong tác phẩm này, những vấn đề về năng suất được đo lường chắc chắn và được xử lý chính xác để có thể đưa ra các chính sách đúng đắn cho việc nâng cao năng suất nói chung và nâng cao năng suất lao động nói riêng.
Theo quan điểm này, nên thay đổi quan điểm từ việc tính đầu vào lao động bằng cách chia tiền lương theo đầu người, sang tính đầu vào lao động theo số giờ thực làm việc của người lao động. Khi đó sẽ tính chính xác hơn mức độ thay đổi trong giờ làm việc của mỗi công nhân. 8 General Electric (GE) đưa ra báo cáo đo lường hiệu quả hoạt động vào những năm 1950, đã đặt nền móng cho hình thành phương pháp thẻ điểm cân bằng. Thuật ngữ Balanced scorecard (BSC – thẻ điểm cân bằng) được tiến sĩ Robert Kaplan đưa ra năm 1990 tại trường kinh doanh Harvard và David Norton.
BSC là hệ thống xây dựng kế hoạch và quản trị chiến lược, được sử dụng tại các tổ chức kinh doanh, phi lợi nhuận và chính phủ nhằm định hướng hoạt động kinh doanh theo tầm nhìn và chiến lược của tổ chức, nâng cao hiệu quả truyền thông nội bộ và bên ngoài, theo dõi hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp so với mục tiêu đề ra. Đây là mô hình đo lường hiệu quả hoạt động có tích hợp thêm các chỉ số không thuộc về tài chính bên cạnh các chỉ số tài chính truyền thống. Việc này cho phép các nhà quản lý có một cái nhìn “cân bằng” hơn về hoạt động của doanh nghiệp. Hệ thống BSC giúp doanh nghiệp triển khai những chiến lược trên giấy thành những “mệnh lệnh hành động” cho các hoạt động hàng ngày của mình.
BSC tạo ra các mô hình đo lường hiệu quả hoạt động và hoạch định những công việc cần phải thực hiện và đánh giá yếu tố nào để cân bằng khía cạnh tài chính. BSC khuyến khích phản hồi cả về quy trình kinh doanh nội bộ lẫn kế quả kinh doanh nhằm giúp nhà quản trị liên tục cải thiện và tăng hiệu quả hoạt động; cho phép các nhà quản trị thực sự triển khai những kế hoạch, chiến lược mang tính chất lý thuyết thành trung tâm điều phối mọi hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây là một phương pháp rất khó áp dụng, nó đòi hỏi sự đồng tâm của toàn tổ chức, cần nhiều thời gian, nguồn lực. Khi thực hiện BSC sẽ gặp một số rào cản từ phía quản lý và từ phía thực hiện.
• Từ phía quản lý: Yêu cầu sự quyết tâm cao độ và sự nhất trí trong thực hiện của ban giám đốc, không có khả năng đạt được sự nhất trí trong các mục tiêu hay chỉ tiêu và mất nhiều thời gian của nhà quản lý, đặc biệt là quản lý cấp cao. 9 • Từ phía thực hiện: -Thiếu sự đồng tình của các nhân viên, đặc biệt những người với suy nghĩ phải là phải làm thêm, hoặc bị đánh giá qua hệ thống các phép đo. - Sự sợ hãi hay miễn cưỡng phải thay đổi các thói quen, các quá trình không linh hoạt, các hệ thống “quá được yêu mến”, văn hóa ít thay đổi sẽ là những chướng ngại tới thành công của các phép đo. - Việc đo thì dễ, nhưng việc xác định đo cái gì rất khó.
- Các tài liệu chính thống về BSC hiện nay có, chủ yếu là các tài liệu dịch. Vì vậy cơ sở lý thuyết không mang tính thống nhất và chưa đưa các yếu tố riêng của Việt Nam vào lý thuyết BSC. Các nghiên cứu trong nước về năng suất và năng suất lao động Đo lường năng suất tại doanh nghiệp Việt nam đã được thực hiện từ rất lâu, tuy nhiên đo lường năng suất theo cách tiếp cận mới đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ. Trong giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Trần Xuân Cầu (2009) đã dành một phần trong nghiên cứu của mình về năng suất lao động.
Nghiên cứu này đã chỉ rõ khái niệm về năng suất lao động, ý nghĩa của việc tăng năng suất lao động, đồng thời đã chỉ ra được các chỉ tiêu về năng suất lao động như: chỉ tiêu bằng hiện vật, bằng giá trị và chỉ tiêu bằng thời gian lao động.