Luận văn thạc sĩ ueb nâng cao năng suất lao động của chuyên viên tín dụng ở ngân hàng tmcp phương đông

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueb nâng cao năng suất lao động của chuyên viên tín dụng ở ngân hàng tmcp phương đông, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA NHÂN VIÊN TÍN DỤNG Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu

1.1.1. Các nghiên cứu về năng suất lao động

1.1.2. Các nghiên cứu định tính của các nhà kinh tế học trên thế giới về năng suất lao động

1.1.3. Các nghiên cứu định lượng của các nhà khoa học trên thế giới về năng suất lao động

1.1.4. Các nghiên cứu trong nước về năng suất và năng suất lao động

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu

2.2. Các công cụ được sử dụng

2.3. Các giả định nghiên cứu

2.4. Vị trí của chuyên viên tín dụng chuyên phụ trách bán hàng (RM)

2.5. Phạm vi sử dụng phương pháp đánh giá

2.6. Các tiêu chí được sử dụng trong quá trình nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA CHUYÊN VIÊN TÍN DỤNG Ở NGÂN HÀNG PHƯƠNG ĐÔNG

3.1. Khái quát vài nét về hoạt động tín dụng ở ngân hàng Phương Đông

3.2. Tổng quan về Ngân hàng Phương Đông

3.3. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng Phương Đông

3.4. Kết quả hoạt động trong lĩnh vực tín dụng giai đoạn 2011 – 2013

3.5. Đánh giá thực trạng hoạt động của nhân viên tín dụng ở Ngân hàng Phương Đông trong giai đoạn 2011 – 2013

3.6. Đánh giá thực trạng hoạt động của nhân viên tín dụng ở Ngân hàng Phương Đông theo các tiêu chí thực hiện KPI

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA CHUYÊN VIÊN TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG PHƯƠNG ĐÔNG

4.1. Mục tiêu và chiến lược của Ngân hàng Phương Đông

4.1.1. Mục tiêu và chiến lược chung

4.1.2. Mục tiêu và chiến lược trong lĩnh vực tín dụng

4.2. Các giải pháp để nâng cao năng suất lao động của chuyên viên tín dụng ở ngân hàng Phương Đông

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nâng Cao Năng Suất Lao Động Chuyên Viên Tín Dụng

Nâng cao năng suất lao động của chuyên viên tín dụng tại Ngân hàng Phương Đông là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng. Năng suất lao động không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả công việc mà còn quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng trong thị trường tài chính. Việc cải thiện năng suất lao động sẽ giúp ngân hàng tối ưu hóa quy trình làm việc, nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường sự hài lòng của khách hàng.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Năng Suất Lao Động Trong Ngân Hàng

Năng suất lao động là yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Theo nghiên cứu của PGS. Lê Quân, năng suất lao động cao giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh ngân hàng phải đối mặt với nhiều thách thức từ thị trường.

1.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Năng Suất Lao Động

Năng suất lao động của chuyên viên tín dụng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như trình độ chuyên môn, kỹ năng mềm, và công nghệ sử dụng trong quy trình làm việc. Việc đào tạo và phát triển nhân viên là cần thiết để nâng cao năng suất lao động.

II. Vấn Đề Năng Suất Lao Động Của Chuyên Viên Tín Dụng Hiện Nay

Mặc dù Ngân hàng Phương Đông đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao năng suất lao động, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Năng suất lao động của chuyên viên tín dụng hiện tại chưa đạt yêu cầu, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc và sự phát triển bền vững của ngân hàng.

2.1. Thực Trạng Năng Suất Lao Động

Theo báo cáo từ Ngân hàng Phương Đông, năng suất lao động của chuyên viên tín dụng trong giai đoạn 2011-2013 có sự cải thiện nhưng vẫn chưa đạt mức tối ưu. Việc này cần được phân tích để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục.

2.2. Những Thách Thức Đối Với Chuyên Viên Tín Dụng

Các thách thức như áp lực công việc, thiếu hụt kỹ năng và công nghệ lạc hậu đang cản trở sự phát triển của chuyên viên tín dụng. Cần có những biện pháp cụ thể để giải quyết những vấn đề này.

III. Phương Pháp Nâng Cao Năng Suất Lao Động Chuyên Viên Tín Dụng

Để nâng cao năng suất lao động của chuyên viên tín dụng, ngân hàng cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Việc tối ưu hóa quy trình làm việc và áp dụng công nghệ mới là những giải pháp quan trọng.

3.1. Đào Tạo Và Phát Triển Nhân Viên

Đào tạo nhân viên là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng suất lao động. Ngân hàng cần tổ chức các khóa đào tạo thường xuyên để cập nhật kiến thức và kỹ năng cho chuyên viên tín dụng.

3.2. Ứng Dụng Công Nghệ Trong Quản Lý

Việc áp dụng công nghệ trong quy trình làm việc sẽ giúp chuyên viên tín dụng tiết kiệm thời gian và nâng cao hiệu quả công việc. Ngân hàng cần đầu tư vào các phần mềm quản lý hiện đại để hỗ trợ nhân viên.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Các giải pháp nâng cao năng suất lao động đã được áp dụng tại Ngân hàng Phương Đông và đã mang lại những kết quả tích cực. Việc cải thiện năng suất lao động không chỉ giúp ngân hàng tăng trưởng mà còn nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

4.1. Kết Quả Đạt Được Từ Các Giải Pháp

Sau khi áp dụng các giải pháp, năng suất lao động của chuyên viên tín dụng đã có sự cải thiện rõ rệt. Ngân hàng đã ghi nhận sự tăng trưởng trong doanh thu và sự hài lòng của khách hàng.

4.2. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Thực Tiễn

Các bài học từ thực tiễn cho thấy rằng việc đầu tư vào con người và công nghệ là rất quan trọng. Ngân hàng cần tiếp tục duy trì và phát triển các giải pháp này để đạt được kết quả tốt hơn.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Năng Suất Lao Động Chuyên Viên Tín Dụng

Nâng cao năng suất lao động của chuyên viên tín dụng tại Ngân hàng Phương Đông là một quá trình liên tục. Cần có sự cam kết từ ban lãnh đạo và toàn thể nhân viên để đạt được mục tiêu này.

5.1. Tương Lai Của Năng Suất Lao Động

Trong tương lai, ngân hàng cần tiếp tục cải tiến quy trình làm việc và áp dụng công nghệ mới để nâng cao năng suất lao động. Điều này sẽ giúp ngân hàng duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường.

5.2. Định Hướng Phát Triển Bền Vững

Ngân hàng cần xây dựng một chiến lược phát triển bền vững, trong đó năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng. Việc này sẽ đảm bảo sự phát triển lâu dài và ổn định cho ngân hàng.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb nâng cao năng suất lao động của chuyên viên tín dụng ở ngân hàng tmcp phương đông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀCƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNGCỦA NHÂN VIÊN TÍN DỤNG Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về năng suất lao động Sách và bài báo khoa học về năng suất lao động ở nước ta rất nhiều song nếu muốn tìm một cuốn sách khoa học cơ bản về lĩnh vực năng suất lao động trong lĩnh vực ngân hàng, cụ thể là lĩnh vực tín dụng không dễ. Sách về năng suất thường chỉ bàn về vị trí, vai trò của năng suất lao động đối với xã hội.

Sách về quản trị chuyên môn, nghiệp vụ hay một loại công việc cụ thể như quản trị nhân sự, quản trị tài chính, quản trị chiến lược, quản trị sản xuất, quản trị chất lượng, quản trị marketing…Trong cả hai loại sách khoa học kể trên có nhiều quyển đã trình bày nội dung các tư tưởng, lý luận về năng suất lao động trong khuôn khổ một chương hoặc một tiết, mục, bài. Sau đây, tác giả chủ yếu tập trung vào hai loại chính: (1) các công trình nghiên cứu năng suất lao động nói chung; (2) các công trình nghiên cứu từ cách tiếp cận và quan điểm về hiệu quả trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng. Các nghiên cứu định tính của các nhà kinh tế học trên thế giới về năng suất lao động: Trong lý thuyết về giá trị lao động, các nhà kinh tế trong lịch sử như các nhà kinh tế học trường phái cổ điển (Adam Smith, D. Ricardo), Các- Mác, trường phái tân cổ điển, Keynes…Các lý thuyết này đều đã hình thành nên khái niệm về giá trị lao động, vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị của hàng hóa.

Đặc biệt, lý thuyết của C. Mác còn chỉ ra lượng giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động. Lượng giá trị hàng hóa tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động (năng suất lao động). Sức sản xuất của lao động càng lớn thì thời gian lao động xã hội cần 6 thiế để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó càng ít, giá trị của nó càng nhỏ.

Sự thay đổi của sức sản xuất làm tăng thêm hiệu quả của lao động và do đó làm tăng thêm khối lượng những giá trị sử dụng do lao động đó cung cấp, vì vậy làm giảm bớt đại lượng giá trị của tổng khối lượng đã tăng lên đó. Sức sản xuất của lao động trong một lĩnh vực cụ thể được quyết định bởi những nhân tố khác nhau như: Trình độ khéo léo trung bình của người lao động, mức độ, trình độ phát triển khoa học và sự áp dụng khoa học vào quy trình công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất, điều kiện tự nhiên… Các nghiên cứu định lượng của các nhà khoa học trên thế giới về năng suất lao động Năm 1974, Mr.Ramsay giới thiệu hệ thống RAPMODS cung cấp một cách tiếp cận để đáp ứng nhu cầu đo lường năng suất, dự thảo ngân sách tài chính kết hợp với những mục tiêu năng suất được họach định để cải tiến năng suất của doanh nghiệp. Hệ thống này đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia khác nhau. Hệ thống RAPMODS đưa ra không chỉ các công thức tính toán các chỉ tiêu năng suất (chủ yếu gồm 2 hình thức biểu hiện của năng suất là mức năng suất và chỉ số năng suất) mà còn đưa ra các công thức tính toán tương đương, trong đó thể hiện được mối quan hệ của các yếu tố thành phần (của đầu vào và đầu ra).

Từ đây, khi thay đổi bất kỳ một yếu tố nào, ta có thể dự báo được thay đổi của các yếu tố còn lại, và cũng có thể kiểm soát được dự thảo mục tiêu và thực tế thực hiện. Từ đó cho phép quản lý năng suất được tốt hơn. Có thể coi hệ thống RAPMODS gồm 2 nhóm chỉ tiêu và 03 quy tắc được áp dụng rộng rãi cho bất kỳ lọai hình doanh nghiệp kinh tế nào. Phương pháp Rapmods không chỉ đưa ra 1 phương pháp đo lường năng suất, hơn thế nữa, nó còn cung cấp một phương pháp làm thế nào hoạch định từ mục tiêu 7 năng suất chung (RSO, ROI, TCE, TPM…) cho đến cân nhắc-lựa chọn các mục tiêu năng suất yếu tố cần đến bao nhiêu yếu tố đầu vào.

Thông qua giám sát kết qủa thực tế để so sánh với mục tiêu dự tính cho phép hoạch định các yếu tố đầu vào một cách thích hợp nhất để đạt mục tiêu đầu ra. Phương pháp này áp dụng khá hiệu quả đối với các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, tuy nhiên, khi áp dụng lại gặp khó khăn trong lĩnh vực tín dụng do đặc thù khi phải sử dụng nhiều kĩ năng mềm thay vì những kỹ thuật trong các nhà máy sản xuất. Tăng trưởng năng suất được cũng được đề cập đến trong nghiên cứu của Alwyn Young (1992, 1995) va Paul Krugman (1994) lập luận rằng, tăng trưởng kinh tế ở châu Á được thúc đẩy bởi sự tích tụ của các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất chứ không phải do tăng năng suất lao động. Nói cách khác, họ cho rằng, phép lạ kinh tế của châu Á chủ yếu là do gia tăng số lượng và không phải chất lượng của yếu tố sản xuất.

Các phân tích thêm và các bằng chứng cho thấy rằng khi các nước trở nên phát triển hơn và di chuyển gần hơn đến giới hạn của các yếu tố trên, họ dựa nhiều hơn vào năng suất để duy trì sự tăng trưởng kinh tế trong suốt quá trình. Trong tác phẩm Productivity Growth:Theory and Measurement, David T. Owyong (1998) đã chỉ ra vai trò, tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ trong tính toán năng suất nói chung và năng suất lao động nói riêng. Trong tác phẩm này, những vấn đề về năng suất được đo lường chắc chắn và được xử lý chính xác để có thể đưa ra các chính sách đúng đắn cho việc nâng cao năng suất nói chung và nâng cao năng suất lao động nói riêng.

Theo quan điểm này, nên thay đổi quan điểm từ việc tính đầu vào lao động bằng cách chia tiền lương theo đầu người, sang tính đầu vào lao động theo số giờ thực làm việc của người lao động. Khi đó sẽ tính chính xác hơn mức độ thay đổi trong giờ làm việc của mỗi công nhân. 8 General Electric (GE) đưa ra báo cáo đo lường hiệu quả hoạt động vào những năm 1950, đã đặt nền móng cho hình thành phương pháp thẻ điểm cân bằng. Thuật ngữ Balanced scorecard (BSC – thẻ điểm cân bằng) được tiến sĩ Robert Kaplan đưa ra năm 1990 tại trường kinh doanh Harvard và David Norton.

BSC là hệ thống xây dựng kế hoạch và quản trị chiến lược, được sử dụng tại các tổ chức kinh doanh, phi lợi nhuận và chính phủ nhằm định hướng hoạt động kinh doanh theo tầm nhìn và chiến lược của tổ chức, nâng cao hiệu quả truyền thông nội bộ và bên ngoài, theo dõi hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp so với mục tiêu đề ra. Đây là mô hình đo lường hiệu quả hoạt động có tích hợp thêm các chỉ số không thuộc về tài chính bên cạnh các chỉ số tài chính truyền thống. Việc này cho phép các nhà quản lý có một cái nhìn “cân bằng” hơn về hoạt động của doanh nghiệp. Hệ thống BSC giúp doanh nghiệp triển khai những chiến lược trên giấy thành những “mệnh lệnh hành động” cho các hoạt động hàng ngày của mình.

BSC tạo ra các mô hình đo lường hiệu quả hoạt động và hoạch định những công việc cần phải thực hiện và đánh giá yếu tố nào để cân bằng khía cạnh tài chính. BSC khuyến khích phản hồi cả về quy trình kinh doanh nội bộ lẫn kế quả kinh doanh nhằm giúp nhà quản trị liên tục cải thiện và tăng hiệu quả hoạt động; cho phép các nhà quản trị thực sự triển khai những kế hoạch, chiến lược mang tính chất lý thuyết thành trung tâm điều phối mọi hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây là một phương pháp rất khó áp dụng, nó đòi hỏi sự đồng tâm của toàn tổ chức, cần nhiều thời gian, nguồn lực. Khi thực hiện BSC sẽ gặp một số rào cản từ phía quản lý và từ phía thực hiện.

• Từ phía quản lý: Yêu cầu sự quyết tâm cao độ và sự nhất trí trong thực hiện của ban giám đốc, không có khả năng đạt được sự nhất trí trong các mục tiêu hay chỉ tiêu và mất nhiều thời gian của nhà quản lý, đặc biệt là quản lý cấp cao. 9 • Từ phía thực hiện: -Thiếu sự đồng tình của các nhân viên, đặc biệt những người với suy nghĩ phải là phải làm thêm, hoặc bị đánh giá qua hệ thống các phép đo. - Sự sợ hãi hay miễn cưỡng phải thay đổi các thói quen, các quá trình không linh hoạt, các hệ thống “quá được yêu mến”, văn hóa ít thay đổi sẽ là những chướng ngại tới thành công của các phép đo. - Việc đo thì dễ, nhưng việc xác định đo cái gì rất khó.

- Các tài liệu chính thống về BSC hiện nay có, chủ yếu là các tài liệu dịch. Vì vậy cơ sở lý thuyết không mang tính thống nhất và chưa đưa các yếu tố riêng của Việt Nam vào lý thuyết BSC. Các nghiên cứu trong nước về năng suất và năng suất lao động Đo lường năng suất tại doanh nghiệp Việt nam đã được thực hiện từ rất lâu, tuy nhiên đo lường năng suất theo cách tiếp cận mới đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ. Trong giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Trần Xuân Cầu (2009) đã dành một phần trong nghiên cứu của mình về năng suất lao động.

Nghiên cứu này đã chỉ rõ khái niệm về năng suất lao động, ý nghĩa của việc tăng năng suất lao động, đồng thời đã chỉ ra được các chỉ tiêu về năng suất lao động như: chỉ tiêu bằng hiện vật, bằng giá trị và chỉ tiêu bằng thời gian lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ