Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh THPT trong dạy học vật lý với sự hỗ trợ của Facebook

Luận án tiến sĩ nghiên cứu Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh trong dạy học một số kiến thức cơ học và điện từ học vật lí, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Đại học Huế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

272
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Giả thuyết khoa học

1.4. Đối tượng nghiên cứu

1.5. Phạm vi nghiên cứu

1.6. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.7. Phương pháp nghiên cứu

1.8. Những đóng góp mới của luận án

1.9. Cấu trúc của luận án

2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Các nghiên cứu về tự học và năng lực tự học

2.2. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới

2.3. Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam

2.4. Các nghiên cứu về dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và mạng xã hội

2.5. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới

2.6. Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam

2.7. Vấn đề nghiên cứu của luận án

3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

3.1. Dạy học theo định hướng bồi dưỡng năng lực tự học

3.2. Đặc điểm của năng lực tự học

3.3. Cấu trúc năng lực tự học

3.4. Các hình thức tự học

3.5. Dạy học với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

3.5.1. Sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook trong dạy học

3.5.2. Thực trạng của việc tự học của học sinh khi sử dụng mạng xã hội

3.5.3. Kết quả điều tra, khảo sát

3.5.4. Nguyên nhân của thực trạng

3.5.5. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết

3.6. Xây dựng khung năng lực tự học của học sinh với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

3.6.1. Nguyên tắc xây dựng khung năng lực tự học của học sinh với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

3.6.2. Quy trình xây dựng khung năng lực tự học của học sinh với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

3.6.3. Khung năng lực tự học của học sinh với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

3.7. Biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

3.7.1. Nguyên tắc đề xuất

3.7.2. Các biện pháp bồi dưỡng

3.8. Kết luận chương 2

4. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ HỌC VÀ ĐIỆN TỪ HỌC VẬT LÍ THPT VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

4.1. Thiết kế ý tưởng chủ đề dạy học một số kiến thức Cơ học và Điện từ học Vật lí THPT với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

4.2. Cấu trúc nội dung một số kiến thức Cơ học và Điện từ học Vật lí THPT

4.2.1. Cấu trúc nội dung chương “Các định luật bảo toàn”

4.2.2. Cấu trúc nội dung phần “Từ trường” và “Cảm ứng điện từ”

4.3. Xây dựng và sử dụng mạng xã hội Facebook trong dạy học

4.3.1. Nguyên tắc xây dựng mạng xã hội Facebook trong dạy học

4.3.2. Đề xuất quy trình xây dựng và sử dụng mạng xã hội Facebook hỗ trợ dạy học

4.3.3. Giới thiệu mạng xã hội Facebook hỗ trợ dạy học

4.4. Thiết kế quy trình dạy học một số đơn vị kiến thức Cơ học và Điện từ học Vật lí THPT theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

4.4.1. Quy trình tổ chức dạy học chủ đề “Xe bong bóng chuyển động” (chủ đề 1) với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

4.4.2. Quy trình tổ chức dạy học chủ đề “Khám phá từ trường trái đất” (chủ đề 2) với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

4.4.3. Quy trình tổ chức dạy học chủ đề “Sự kỳ diệu của lực từ” (chủ đề 3) với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

4.5. Kết luận chương 3

5. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

5.1. Mục tiêu thực nghiệm sư phạm

5.2. Mục tiêu thực nghiệm sư phạm vòng 1

5.3. Mục tiêu thực nghiệm sư phạm vòng 2

5.4. Phạm vi, đối tượng thực nghiệm sư phạm

5.4.1. Phạm vi thực nghiệm

5.4.2. Đối tượng thực nghiệm

5.5. Tiến trình thực nghiệm

5.6. Chọn mẫu thực nghiệm

5.7. Tổ chức thực nghiệm

5.8. Phương pháp đánh giá năng lực tự học của học sinh với sự hỗ trợ của Mạng xã hội

5.8.1. Phương pháp định tính

5.8.2. Phương pháp định lượng

5.9. Kết quả thực nghiệm

5.9.1. Kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 1

5.9.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 2

5.10. Nhận xét chung

5.11. Kết luận chương 4

6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao năng lực tự học cho học sinh THPT qua Facebook

Nâng cao năng lực tự học cho học sinh THPT là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục hiện đại. Việc sử dụng mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, đã mở ra nhiều cơ hội mới cho học sinh trong việc học tập và tương tác. Facebook không chỉ là nơi giải trí mà còn là công cụ hỗ trợ học tập hiệu quả, giúp học sinh kết nối với giáo viên và bạn bè, từ đó nâng cao khả năng tự học của mình.

1.1. Tầm quan trọng của năng lực tự học trong giáo dục

Năng lực tự học giúp học sinh phát triển khả năng tự nghiên cứu và tìm kiếm thông tin. Điều này rất cần thiết trong bối cảnh giáo dục hiện nay, nơi mà kiến thức luôn thay đổi và cập nhật liên tục.

1.2. Facebook như một công cụ hỗ trợ học tập

Facebook cung cấp nhiều tính năng hữu ích như nhóm học tập, chia sẻ tài liệu và thảo luận trực tuyến, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận kiến thức và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập.

II. Những thách thức trong việc nâng cao năng lực tự học qua Facebook

Mặc dù Facebook mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại không ít thách thức trong việc sử dụng nó để nâng cao năng lực tự học. Học sinh có thể bị phân tâm bởi các nội dung không liên quan, dẫn đến việc giảm hiệu quả học tập. Ngoài ra, không phải học sinh nào cũng biết cách sử dụng Facebook một cách hiệu quả cho việc học.

2.1. Vấn đề phân tâm khi sử dụng Facebook

Nhiều học sinh dễ bị cuốn vào các hoạt động giải trí trên Facebook, làm giảm thời gian và sự tập trung cho việc học. Điều này cần được giáo viên và phụ huynh chú ý và hướng dẫn.

2.2. Thiếu kỹ năng sử dụng Facebook cho học tập

Không phải học sinh nào cũng biết cách khai thác tối đa các tính năng của Facebook để phục vụ cho việc học. Việc này đòi hỏi sự hướng dẫn và hỗ trợ từ giáo viên.

III. Phương pháp nâng cao năng lực tự học qua Facebook cho học sinh THPT

Để nâng cao năng lực tự học cho học sinh THPT qua Facebook, cần áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại. Việc thiết kế các hoạt động học tập trên Facebook sẽ giúp học sinh chủ động hơn trong việc học. Các phương pháp này bao gồm việc tạo nhóm học tập, tổ chức thảo luận trực tuyến và chia sẻ tài liệu học tập.

3.1. Tạo nhóm học tập trên Facebook

Việc tạo nhóm học tập trên Facebook giúp học sinh dễ dàng trao đổi thông tin, thảo luận và hỗ trợ nhau trong việc học. Đây là một cách hiệu quả để khuyến khích sự hợp tác và tương tác giữa các học sinh.

3.2. Tổ chức thảo luận trực tuyến

Thảo luận trực tuyến qua Facebook giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp và tư duy phản biện. Giáo viên có thể đặt câu hỏi và khuyến khích học sinh tham gia thảo luận để củng cố kiến thức.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về năng lực tự học qua Facebook

Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng Facebook trong dạy học đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Học sinh không chỉ cải thiện được kiến thức mà còn phát triển kỹ năng tự học và khả năng làm việc nhóm. Các hoạt động học tập trên Facebook đã giúp học sinh cảm thấy hứng thú hơn với môn học.

4.1. Kết quả khảo sát về năng lực tự học

Kết quả khảo sát cho thấy có sự cải thiện rõ rệt trong năng lực tự học của học sinh sau khi áp dụng các phương pháp học tập qua Facebook. Học sinh cảm thấy tự tin hơn trong việc tìm kiếm và tiếp thu kiến thức.

4.2. Những phản hồi từ học sinh và giáo viên

Phản hồi từ học sinh cho thấy họ cảm thấy hứng thú hơn với việc học khi sử dụng Facebook. Giáo viên cũng nhận thấy sự tiến bộ trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của việc nâng cao năng lực tự học qua Facebook

Việc nâng cao năng lực tự học cho học sinh THPT qua Facebook không chỉ là một xu hướng mà còn là một yêu cầu cần thiết trong giáo dục hiện đại. Tương lai, việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học sẽ ngày càng trở nên phổ biến, và Facebook sẽ tiếp tục là một công cụ hữu ích trong việc hỗ trợ học tập.

5.1. Tương lai của việc học tập qua mạng xã hội

Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, việc học tập qua mạng xã hội sẽ ngày càng trở nên phổ biến. Học sinh sẽ có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận kiến thức và phát triển kỹ năng.

5.2. Đề xuất các biện pháp cải thiện

Cần có các biện pháp cải thiện việc sử dụng Facebook trong học tập, bao gồm việc tổ chức các khóa đào tạo cho học sinh về cách sử dụng Facebook hiệu quả trong học tập.

27/07/2025
Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh trong dạy học một số kiến thức cơ học và điện từ học vật lí thpt với sự hỗ trợ của mạng xã hội facebook luận án tiến sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về tự học và năng lực tự học 1. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới Vấn đề TH đã được nhiều học giả và những nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu như V. Kế thừa những nghiên cứu trước đó về TH và chỉ ra một số thành phần tâm lý cơ bản của sự lĩnh hội.

Các thành phần này có mối quan hệ qua lại với nhau trong tâm lý của HS, nếu thiếu sự tự giác, tích cực thì học tập của HS sẽ không đạt yêu cầu. Nghĩa là trong học tập, HS phải TH, tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức cho bản thân [19], [44]. Khi nghiên cứu việc tổ chức có hiệu quả hoạt động TH của người học, tác giả I. Kharlamôv đã đề cập đến động cơ và việc phát huy tính tích cực của HS đối với hoạt động TH trong tác phẩm “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào”.

Tác giả đã nhấn mạnh việc học tập và xem nó là quá trình nhận thức tích cực của HS. Vai trò của người GV là người tổ chức và hướng dẫn việc học tập, tạo điều kiện cần thiết để kích thích hoạt động nhận thức của HS. HS phải nắm vững kiến thức và tự tổ chức việc học tập của mình, tự tái tạo tri thức của loài người thành tri thức của mình, qua đó tính tích cực được hình thành và phát triển. Theo ông, TH đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu quả hoạt động trí tuệ của HS, ông đã nêu lên một loạt những phương pháp, những thủ thuật như phép tương tự, phân tích - tổng hợp, quy nạp, tìm nguyên nhân gây ra hiện tượng, nhấn mạnh mâu thuẫn chứa đựng trong tài liệu nhằm kích thích và phát huy tính tích cực nhận thức của HS [36] [37].

Nghiên cứu về TH và xem hoạt động TH như là một PPDH, G. Và nguời học TH sẽ có những biểu hiện của người có NLTH và xác nhận rằng người TH là người có động cơ học 7 tập và bền bỉ, có tính độc lập, kỷ luật, biết định hướng mục tiêu và có kĩ năng hoạt động phù hợp [105]. Bên canhj đó, còn đưa ra chủ trương hình thành môi trường học tập, trong đó người học có ý thức về bản thân, an toàn và tự do để lựa chọn. Người học phải có trách nhiệm đầy đủ về sự quyết định, về hành động và KQHT của họ, GV có nhiệm vụ xây dựng môi trường học tập tin cậy an toàn trở thành người cùng học, chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực và kĩ thuật học tập [102].

Quan niệm sai lầm lớn nhất là cố gắng để nắm bắt được bản chất của TH trong một định nghĩa duy nhất. Theo đó cho dù nghiên cứu hay thực hành, học cá nhân hay học nhóm, mỗi một cá nhân người học có phương pháp, có NL riêng biệt - chính sự riêng biệt ấy cho thấy NLTH và việc TH của mỗi cá nhân là khác nhau [97]. Trong công trình “Học tập một cách thông minh” của Shayer Michael và Adey Philip đã đưa ra nhiều biện pháp giúp HS học tập một cách thông minh. Các tác giả chú trọng vào tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của HS từ đó đưa ra những gì cần giúp đỡ các em trong quá trình TH.

Bên cạnh đó Michael và Phillip còn quan tâm đến vấn đề giao tiếp của HS khi hoạt động nhóm, thông qua những ghi chép về các đoạn hội thoại của các em có thể kết luận mức hiểu bài cũng như mức độ tích cực của HS khi TH [100] Trong cuốn sách “Tự học”, Richard Smith lại cho rằng TH có nghĩa là người học tự chủ. Theo ông đây không hoàn toàn là một phương pháp trong DH mà là một mục tiêu quan trọng của giáo dục. Ý tưởng về tự chủ của người học không phải là mới, ông còn gọi thuật ngữ này với cách gọi khác như: Cá nhân hóa, người học độc lập. Điều này có ý nghĩa là người học phải có đầy đủ NL để chịu trách nhiệm và ra quyết định đối với việc học của mình.

Tác giả Dimitrios Thanasoulas, trong cuốn “Tự học là như thế nào và làm thế nào bồi dưỡng việc tự học” cho rằng khái niệm TH là sự độc lập và tự chủ của người học. Nó là một vấn đề quan trọng nhất trong việc giảng dạy. Người học, học tập một cách độc lập và có trách nhiệm đối với việc học của mình; Tác giả cũng không phủ nhận vai trò hướng dẫn của GV đối với việc TH của HS. Bên cạnh đó, tác giả phân tích khá kĩ về việc mỗi cá nhân đều khác nhau về thói quen học tập, sở thích, nhu cầu và động lực.

Từ đó ông đưa ra trong nghiên cứu của mình quan niệm về TH, điều kiện để TH, chiến lược học tập hiệu quả cũng như những biện pháp khuyến khích HS TH và tự kiểm tra, đánh giá việc học của bản thân. 8 Về mối quan hệ giữa nhiệm vụ học tập ở nhà và TH, tác giả K. Êlidarốp đã chú ý đến việc học ở nhà của HS, nói lên tác dụng của việc TH ở nhà và mối quan hệ giữa nhiệm vụ ở nhà và TH. Ông cũng đã nêu rõ nội dung của việc TH ở nhà, ở đó có sự phân hóa trong quá trình giao bài tập cho từng đối tượng HS.

Tuy nhiên, những bài tập khó chỉ dành cho đối tượng khá giỏi, không bắt buộc tất cả phải làm. Sự phân hóa thực hiện không chỉ đối với HS khá giỏi mà còn có những bài tập mang tính gợi mở cho những bài tập chung để HS yếu kém có thể hoàn thành nhiệm vụ tối thiểu GV giao cho. Theo đó, việc giao bài tập để HS thực hiện trong thời gian TH được xem là biện pháp quan trọng để nâng cao tính tích cực và hiệu quả hoạt động TH của HS. Cho dù các bài học được hoàn thiện như thế nào, mức độ tích cực của HS ở trên lớp cao đến như thế nào, thì việc giao các bài tập ở nhà vẫn rất cần thiết.

Tuy nhiên, việc TH ở nhà của HS đòi hỏi phải có ý thức, tính tích cực và tính tự lực cao [25]. Trong những công trình nghiên cứu về việc hình thành và phát triển kĩ năng, phương pháp TH thì A. Leonchiev đã nghiên cứu và chỉ ra các kĩ năng TH cần thiết để đảm bảo cho HS đạt kết quả cao. Trong kĩ năng TH, tác giả nhấn mạnh đặc biệt đến kĩ năng đọc sách.

Theo ông kĩ năng đọc sách là kĩ năng cơ bản, quyết định đến kết quả hoạt động TH của HS. Ôkôn trong cuốn “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” cho rằng tính tích cực là lòng ham muốn hành động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động, chủ thể đã ý thức được mục đích của hành động. Khi nghiên cứu về hoạt động TH tác giả đã đi sâu nghiên cứu về các kĩ năng TH. Ông cho rằng để TH có hiệu quả thì người học phải có kế hoạch TH.

Kế hoạch học tập sẽ giúp người học chủ động trong hoạt động và thể hiện tác phong khoa học trong TH của bản thân [58]. Một hướng nghiên cứu khác lại tập trung xác định, phân loại đặc điểm của NLTH để nhận ra vai trò của GV trong việc hướng dẫn HS TH điển hình là Taylor, Candy Linda Leach, Guglielmino. Cụ thể tác giả Candy trong phân tích lý thuyết toàn diện của mình, ông tiếp tục phát triển khái niệm NLTH theo hai phương diện (yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong). Đối với phương diện về yếu 9 tố bên ngoài của NLTH ông nhấn mạnh rằng quá trình tự kiểm soát hoạt động học tập là rất quan trọng để HS hoàn thiện NL kiểm soát và NL này chịu ảnh hưởng bởi phương pháp giảng dạy của GV do vậy trong cơ sở giáo dục GV phải chủ động lập kế hoạch giảng dạy để định hướng hoạt động kiểm soát của HS.

Mục đích là cung cấp cho người học những cơ hội để trải nghiệm và trao quyền cho các em để tìm hiểu tri thức một cách độc lập. Yếu tố bên trong chính là một thuộc tính tâm lý của con người, tác giả đề cập nhiều đến sự tự tin, tự tin sẽ giúp cho người học kiên nhẫn theo đuổi các cơ hội học tập [88]. Bên cạnh đó, Taylor và Candy đã tập trung mô phỏng, xác định những dấu hiệu của NLTH được bộc lộ ra ngoài. Những nghiên cứu này hướng tới tìm ra hình thức tác động đến người học để giúp cho người học thuận lợi trong quá trình TH [88], [105].

Rubakin trong tác phẩm “Tự học như thế nào” đã nhấn mạnh vai trò của thái độ tích cực TH trong việc chiếm lĩnh tri thức của HS. Tác giả cho rằng để HS tích cực, chủ động trong quá trình TH thì cần phải giáo dục động cơ học tập đúng đắn [63]. Tất cả phương pháp tự tìm ra kiến thức, chung quy gọi là phương pháp TH. Mỗi cá nhân phải tự tổ chức việc học của mình sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Người học theo cách riêng của cá nhân nhưng thường xuyên trao đổi kiến thức với nhau, còn gọi là “thảo luận chung” để phổ biến cách học của mình cho người khác. Tác giả đã đánh giá được vai trò quan trọng của kiến thức chuyên môn rất cần thiết trong cuộc sống vì mỗi người cần có một nghề để sống và tạo ra của cải cho xã hội để tồn tại. Vì vậy, để có thể phân biệt được những vấn đề thường xuyên xảy ra xung quanh thì con người cần TH. TH giúp con người biết so sánh kiến thức trong sách và thực tế trong cuộc sống.

Tác giả cũng phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa việc TH và đặc điểm riêng của từng cá nhân. Việc tiếp thu kiến thức trong cuộc sống cần có sự đấu tranh, vượt khó khăn thì mới có vinh quang, đồng thời có năng khiếu mà không rèn luyện, học tập thì năng khiếu cũng không phát triển. Ông đã nhấn mạnh vai trò của thái độ tích cực TH trong việc chiếm lĩnh tri thức của HS. Tác giả đã nói lên những điểm mấu chốt trong TH, tổng kết kinh nghiệm học tập của bản thân và đề ra cơ sở khoa học cho hoạt động TH.

Theo ông, cứ đặt ra câu hỏi cho mình rồi tự tìm cách trả lời. Đó chính là TH và để TH đạt kết quả thì ngoài việc 10 phải giáo dục cho HS động cơ đúng đắn trong TH thì cần hình thành và phát triển kĩ năng, phương pháp TH [63].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ