Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh trong dạy học một số kiến thức Cơ học và Điện từ học Vật lí THPT với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook" được tác giả Nguyễn Văn Kiệt thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, thuộc chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí (mã số 9140111), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Huy Hoàng và PGS. Mai Văn Trinh (bảo vệ năm 2022).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh tri thức nhân loại tăng trưởng theo cấp số nhân, yêu cầu giáo dục đòi hỏi người học phải có khả năng tự học và học tập suốt đời. Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nhấn mạnh việc chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Trong các năng lực chung, năng lực tự học (NLTH) giữ vai trò then chốt.

Song song đó, mạng xã hội (MXH) như Facebook, YouTube, Instagram đã phát triển mạnh mẽ và trở thành phương tiện sinh hoạt quen thuộc của học sinh (HS). Tuy nhiên, HS chủ yếu sử dụng MXH vào mục đích giải trí, giao lưu cá nhân mà chưa khai thác hiệu quả các tính năng phục vụ học tập. Dù các hình thức học tập trực tuyến đã xuất hiện, phần lớn chỉ dừng ở mức ôn luyện, kiểm tra đánh giá hoặc học tự do, chưa hình thành một mô hình dạy học (DH) có tổ chức sư phạm chính quy trong trường phổ thông.

Trong chương trình Vật lí trung học phổ thông (THPT), các nội dung Cơ học và Điện từ học gắn liền với thực tiễn nhưng có nhiều quan niệm sai lầm và quỹ thời gian trên lớp không đủ để giáo viên (GV) mở rộng, hướng dẫn chi tiết. Việc giao bài tập về nhà đơn thuần không hỗ trợ kịp thời các vướng mắc của HS khi tự học theo nhóm. Do đó, việc ứng dụng MXH Facebook làm môi trường tương tác sư phạm để bồi dưỡng NLTH trong dạy học Vật lí là khoảng trống thực tiễn và lý luận mà luận án lựa chọn giải quyết.

Mục tiêu và giả thuyết khoa học

  • Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS trong dạy học một số kiến thức Cơ học và Điện từ học với sự hỗ trợ của MXH Facebook.
  • Giả thuyết khoa học: Nếu đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS với sự hỗ trợ của MXH Facebook và áp dụng các biện pháp đó vào tiến trình dạy học một số kiến thức Cơ học và Điện từ học Vật lí THPT thì có thể bồi dưỡng NLTH cho HS, nâng cao kết quả học tập môn Vật lí của HS THPT.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự hình thành và phát triển NLTH của HS trong học tập kiến thức Cơ học và Điện từ học Vật lí THPT.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Nội dung: Quá trình dạy học kiến thức Cơ học (chương "Các định luật bảo toàn") và Điện từ học (phần "Từ trường" và "Cảm ứng điện từ") với sự hỗ trợ của MXH Facebook.
    • Không gian (địa bàn nghiên cứu): Trường THPT Lấp Vò 2 và Trường THPT Lai Vung 1, tỉnh Đồng Tháp.
    • Thời gian thực hiện: Năm học 2017 - 2018 và năm học 2018 - 2019.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản luận án xác định 9 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực và NLTH;
  2. Nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận về việc sử dụng MXH Facebook trong dạy học;
  3. Nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận về bồi dưỡng NLTH với sự hỗ trợ của MXH Facebook;
  4. Điều tra thực trạng sử dụng MXH Facebook trong dạy và học Vật lí của GV, HS tại Trường THPT Lấp Vò 2 và THPT Lai Vung 1, tỉnh Đồng Tháp;
  5. Nghiên cứu, lựa chọn, sắp xếp các kiến thức cơ bản thuộc phần Cơ học và Điện từ học Vật lí THPT phù hợp với chương trình phổ thông và hình thức tự học;
  6. Đề xuất các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS với sự hỗ trợ của MXH Facebook;
  7. Xây dựng hệ thống câu hỏi thuộc nội dung Cơ học và Điện từ học nhằm tổ chức hoạt động tự học thông qua các chủ đề "Xe bong bóng chuyển động", "Khám phá từ trường trái đất" và "Sự kỳ diệu của lực từ";
  8. Xây dựng quy trình bồi dưỡng NLTH và quy trình tổ chức dạy học với sự hỗ trợ của MXH Facebook cho 3 chủ đề nêu trên;
  9. Tổ chức thực nghiệm sư phạm (TNSP) để kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết khoa học.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến tự học, năng lực tự học, dạy học ứng dụng công nghệ thông tin và mạng xã hội:

Nghiên cứu về tự học và năng lực tự học

  • Trên thế giới:
    • I. F. Kharlamov (1979): Nhấn mạnh việc phát huy tính tích cực học tập của HS, xem tự học là quá trình nhận thức tích cực và GV giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn.
    • G. Guglielmino (1977): Khảo sát các đặc điểm của người có NLTH như tính độc lập, kỷ luật, định hướng mục tiêu và kỹ năng phù hợp.
    • Shayer Michael và Adey Philip (2002): Nghiên cứu phương pháp học tập thông minh, ghi chép hội thoại nhóm để đánh giá mức độ hiểu bài và tính tích cực.
    • Richard Smith (2008) và Dimitrios Thanasoulas (2002): Tiếp cận tự học dưới góc độ quyền tự chủ (learner autonomy) và trách nhiệm của người học.
    • K. Elizarov (1981): Phân tích vai trò của bài tập về nhà và sự phân hóa nhiệm vụ học tập tự lực.
    • A. N. Leontiev (1989), W. Okon (1976), P. Candy (1991): Phân tích các yếu tố bên trong (tâm lý, tự tin) và bên ngoài (phương pháp dạy của GV, sự tự kiểm soát) của hoạt động tự học; N. A. Rubakin (1985) nhấn mạnh việc tự đặt câu hỏi và tự tìm lời giải.
    • N. D. Levitov (1972), B. P. Esipov (1971), Tsunesaburo Makiguchi (1994), Sacovich (1990), A. Goroxepxki (1978): Khẳng định tự học diễn ra không có sự can thiệp trực tiếp của GV, đặt trách nhiệm học tập vào chính người học.
  • Tại Việt Nam:
    • Nguyễn Cảnh Toàn (1997): Phân tích mô hình "thầy dạy - trò tự học" với hai cấp độ: tự học có hướng dẫn và tự học hoàn toàn.
    • Thái Duy Tuyên (2001, 2008): Nghiên cứu bản chất, các thao tác trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và biện pháp bồi dưỡng NLTH.
    • Trần Bá Hoành (2003), Phan Trọng Luận (2002), Trịnh Quốc Lập (2004), Phan Thị Hồng Vinh (2011), Tôn Quang Cường (2014), Đặng Thành Hưng (2015): Luận giải tính cá nhân hóa, sự tự điều chỉnh và tính độc lập của tự học trong điều kiện giáo dục Việt Nam.
    • Đinh Quang Báo và cộng sự (2015): Phân lập các biểu hiện cụ thể của NLTH trong môn Vật lí.
    • Các luận án tiến sĩ tiêu biểu: Lương Viết Mạnh (2016), Hà Thị Thúy (2016), Ngô Diệu Nga (2014), Phạm Đình Khương (2013), Nguyễn Duân (2015), Đỗ Thị Phương Thảo (2017), Nguyễn Thị Lan Ngọc (2018) đã xây dựng các biện pháp, phiếu học tập, dạy học dự án nhằm bồi dưỡng NLTH trong từng môn học chuyên biệt.

Nghiên cứu về dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và mạng xã hội

  • Trên thế giới:
    • D. Mallon và cộng sự (2006): Tổng kết 3 giai đoạn phát triển của hệ thống dạy học ứng dụng CNTT (tự động hóa đào tạo, cổng đào tạo lấy người dùng làm trung tâm, hệ thống quản trị học tập mở rộng LMS).
    • I. E. Allen (2007): Phân loại các mức độ khóa học trực tuyến (dưới 29% là giáp mặt dựa trên web, 30% - 79% là kết hợp, từ 80% trở lên là trực tuyến hoàn toàn).
    • Kevin P. Holcomb & Bethany V. Smith (2008), Alan J. Daly (2010), Asnat Dor & Dana Weimann-Saks (2012), Acquisti Alessandro & Gross Ralph (2006), J. Brubaker (2013), Christine Greenhow và cộng sự (2009): Đánh giá tác động của mạng xã hội (Facebook, Ning) đến nhận thức, sự tương tác học thuật ngoài giờ học và mối tương quan với kết quả học tập.
  • Tại Việt Nam:
    • Trương Tiến Tùng (2013), Lê Công Triêm (2004), Nguyễn Thanh Hải - Trần Huy Hoàng - Lê Thiện Tâm (2013), Trần Quỳnh (2017), Nguyễn Kim Đào (2014): Nghiên cứu việc tích hợp E-learning, mô hình B-Learning và máy vi tính để phát triển năng lực hợp tác và tự học.
    • Nguyễn Minh Hoà (2010), Nguyễn Thị Hậu (2010), Trần Hữu Luyến (đề tài Nafosted), Đào Lê Hòa An (2014), Nguyễn Thị Tuyết Mai & Nhâm Phong Tuân (2014), Nguyễn Lan Nguyên (2016), Nguyễn Thị Bắc (2015), Nguyễn Đào Thái Hải (2016): Khảo sát hành vi sử dụng Facebook của giới trẻ, sinh viên và ứng dụng Facebook như một kênh quản lý học tập đa phương tiện.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu tập trung vào cơ sở lý luận chung về tự học hoặc sử dụng CNTT/E-learning ở bậc đại học, khảo sát hành vi MXH mang tính xã hội học/tâm lý học. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện việc thiết kế quy trình sư phạm, xây dựng khung tiêu chí đánh giá và tổ chức các chủ đề dạy học môn Vật lí THPT (cụ thể là phần Cơ học và Điện từ học) với sự hỗ trợ trực tiếp của MXH Facebook nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm năng lực: Luận án tổng hợp các quan điểm từ kinh tế học (F. Weinert), giáo dục học (Bernd Meier, Denyse Tremblay, Xavier Roegiers), tâm lý học (Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy, Phạm Minh Hạc, A. G. Covaliov) và Chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo để đưa ra định nghĩa: Năng lực là khả năng huy động những kiến thức, kĩ năng, thái độ (động cơ) và vận dụng chúng một cách hợp lý để thực hiện thành công một hoạt động nhất định.
  • Khái niệm tự học: Kế thừa quan điểm của N. A. Rubakin, Sharma, Bolhuis & Garrison, Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên, Lưu Xuân Mới; tự học được hiểu là hoạt động nhận thức độc lập, có sự tích hợp giữa tự quản lý và tự kiểm soát nhằm chiếm lĩnh tri thức.
  • Khung năng lực tự học với sự hỗ trợ của MXH Facebook: Luận án xác định các năng lực thành tố, bao gồm:
    • Lập kế hoạch tự học;
    • Thực hiện kế hoạch tự học (thu thập thông tin, trao đổi/thảo luận trên Facebook, xử lý thông tin, hoàn thành nhiệm vụ);
    • Đánh giá và điều chỉnh hoạt động tự học.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp các văn kiện đổi mới giáo dục, chương trình môn Vật lí, tài liệu lý luận dạy học, lý luận về tự học và ứng dụng MXH.
  2. Phương pháp điều tra thực tế:
    • Khảo sát bằng phiếu hỏi: Sử dụng 3 bộ phiếu khảo sát dành cho 3 đối tượng gồm GV Vật lí, cha mẹ học sinh (CMHS) và học sinh THPT tại địa bàn nghiên cứu.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát tiến trình học tập, thái độ và thao tác của HS trong giờ học và trên trang Facebook.
    • Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phân tích sâu sự biến chuyển về NLTH của một số HS đại diện sau quá trình tham gia thực nghiệm.
  3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành 2 vòng thực nghiệm có nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) tương đương về sĩ số và trình độ.
  4. Phương pháp công cụ đánh giá và thống kê toán học:
    • Sử dụng bảng kiểm định tính và Rubric đánh giá các chỉ số hành vi của NLTH.
    • Dùng phần mềm thống kê xử lý các tham số định lượng: điểm trung bình ($\bar{X}$), phương sai ($S^2$), độ lệch chuẩn ($S$), hệ số biến thiên ($V$), giá trị kiểm định Student ($t$), độ tin cậy ($p$), và vẽ đồ thị phân phối tần suất, tần suất lũy tích.

Nguồn tư liệu và dữ liệu thực nghiệm

  • Dữ liệu khảo sát thực trạng từ GV, HS, CMHS tại Trường THPT Lấp Vò 2 và THPT Lai Vung 1 (Đồng Tháp).
  • Dữ liệu đánh giá quá trình và kết quả học tập qua các bài kiểm tra đầu vào, kiểm tra đầu ra của 3 chủ đề học tập trong năm học 2017 - 2018 và 2018 - 2019.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 (24 trang) hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về tự học, năng lực tự học trên thế giới và ở Việt Nam; lịch sử ứng dụng CNTT, đào tạo dựa trên máy tính (CBT), E-learning, B-Learning và sự phát triển của các nền tảng MXH (Classmate, SixDegrees, Friendster, MySpace, Facebook, Ning). Tác giả phân tích các khoảng trống nghiên cứu và khẳng định cơ sở khoa học của việc ứng dụng Facebook vào bồi dưỡng NLTH môn Vật lí THPT.

Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

Chương 2 (57 trang) tập trung vào các nội dung trọng tâm:

  1. Cơ sở lý luận: Làm rõ đặc điểm, cấu trúc NLTH, các hình thức tự học và các mức độ hỗ trợ của MXH Facebook trong dạy học.
  2. Khảo sát thực trạng:
    • Điều tra tình hình tự học của HS, nhận thức của GV và CMHS về việc HS sử dụng Facebook tại tỉnh Đồng Tháp.
    • Kết quả cho thấy: HS sử dụng Facebook với tần suất cao nhưng chủ yếu để giải trí; GV ít khi ứng dụng MXH để giao nhiệm vụ và giám sát tự học; CMHS còn lo ngại tác động tiêu cực của MXH.
  3. Xây dựng khung năng lực tự học với sự hỗ trợ của MXH Facebook: Đề xuất quy trình 5 bước xây dựng khung năng lực, xác định các năng lực thành tố, tiêu chí chất lượng và thang điểm đánh giá Rubric tương ứng với các mức độ đạt được.
  4. Đề xuất 04 biện pháp bồi dưỡng NLTH:
    • Biện pháp 1: Xây dựng môi trường học tập tương tác trên nhóm/trang Facebook sư phạm.
    • Biện pháp 2: Thiết kế và giao hệ thống nhiệm vụ học tập gắn với thực tiễn, định hướng tự học qua Facebook.
    • Biện pháp 3: Hướng dẫn HS phương pháp khai thác, thu thập, xử lý thông tin và thảo luận nhóm thông qua các công cụ của Facebook.
    • Biện pháp 4: Tổ chức cho HS tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng kết quả tự học bằng Rubric trên môi trường mạng.
Thành tố năng lực Nội dung hành vi cốt lõi trên Facebook Công cụ đánh giá
Lập kế hoạch tự học Xác định mục tiêu, phân chia nhiệm vụ nhóm, lập thời gian biểu thực hiện Rubric tiêu chí lập kế hoạch
Thực hiện kế hoạch tự học Tìm kiếm tư liệu, đăng bài thảo luận, phản biện ý kiến, giải quyết vấn đề Rubric tương tác mạng & sản phẩm
Đánh giá và điều chỉnh Tự kiểm tra tiến độ, sửa chữa sai sót, nhận xét bài làm của bạn Rubric tự đánh giá & đánh giá chéo

Chương 3. Tổ chức các hoạt động tự học một số kiến thức Cơ học và Điện từ học Vật lí THPT với sự hỗ trợ của mạng xã hội Facebook

Chương 3 (29 trang) cụ thể hóa lý luận vào thiết kế nội dung giảng dạy:

  1. Phân tích cấu trúc nội dung: Lựa chọn kiến thức chương "Các định luật bảo toàn" (Vật lí 10), chương "Từ trường" và "Cảm ứng điện từ" (Vật lí 11) - những nội dung có nhiều ứng dụng thực tế và HS dễ mắc quan niệm sai lầm.
  2. Quy trình xây dựng và vận hành nhóm Facebook học tập: Đề xuất các nguyên tắc sư phạm, quản trị nội dung, kiểm duyệt bài viết và hướng dẫn HS tương tác an toàn, hiệu quả.
  3. Thiết kế tiến trình 03 chủ đề dạy học:
    • Chủ đề 1: "Xe bong bóng chuyển động" (thuộc chương Các định luật bảo toàn - Vật lí 10).
    • Chủ đề 2: "Khám phá từ trường trái đất" (thuộc chương Từ trường - Vật lí 11).
    • Chủ đề 3: "Sự kỳ diệu của lực từ" (thuộc chương Từ trường và Cảm ứng điện từ - Vật lí 11). Mỗi chủ đề đều có bảng tham chiếu quy trình tổ chức dạy học, các phiếu giao nhiệm vụ tự học ở nhà qua Facebook, phiếu hướng dẫn làm việc nhóm và Rubric đánh giá cụ thể.

Chương 4. Thực nghiệm sư phạm

Chương 4 (27 trang) trình bày quy trình và kết quả TNSP:

  1. Tổ chức thực nghiệm:
    • Tiến hành qua 2 vòng thực nghiệm tại Trường THPT Lấp Vò 2 và Trường THPT Lai Vung 1 (tỉnh Đồng Tháp).
    • Thiết kế các cặp lớp TN và ĐC có trình độ học lực và điểm kiểm tra đầu vào tương đương nhau.
  2. Phương pháp đánh giá: Kết hợp định tính (quan sát bài đăng, bình luận, phỏng vấn, hồ sơ học tập) và định lượng (điểm số bài kiểm tra đầu ra, bảng điểm Rubric).
  3. Phân tích kết quả thực nghiệm:
    • Kết quả điểm kiểm tra đầu ra của các chủ đề ở nhóm TN luôn có giá trị trung bình ($\bar{X}$) cao hơn nhóm ĐC.
    • Đường cong phân phối tần suất lũy tích của nhóm TN nằm lệch hẳn về phía bên phải so với nhóm ĐC, chứng minh tỷ lệ HS đạt điểm khá, giỏi ở nhóm TN cao hơn.
    • Kiểm định thống kê xác nhận sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa $p < 0{,}05$.
    • NLTH của HS nhóm TN tăng tiến rõ rệt qua từng chủ đề ở cả 3 thành tố: lập kế hoạch, thực hiện và tự đánh giá.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa, phát triển và làm rõ cơ sở lý luận về NL, NLTH, các hình thức tự học, các mức độ hỗ trợ của MXH Facebook trong dạy học Vật lí.
  • Xây dựng quy trình xác định và hoàn thiện khung NLTH của HS với sự hỗ trợ của MXH Facebook, bao gồm các thành tố, chỉ số hành vi, tiêu chí chất lượng và thang đo Rubric gán điểm.
  • Đề xuất 04 biện pháp sư phạm bồi dưỡng NLTH cho HS THPT thông qua môi trường MXH Facebook.
  • Xây dựng quy trình tổ chức dạy học theo hướng phát triển NLTH với sự hỗ trợ của MXH Facebook.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá thực trạng hoạt động tự học môn Vật lí và việc sử dụng Facebook của GV, HS, CMHS tại các trường THPT thuộc tỉnh Đồng Tháp, chỉ ra nguyên nhân và các vấn đề cần giải quyết.
  • Thiết kế hoàn chỉnh 03 quy trình tổ chức dạy học theo 3 chủ đề Vật lí ("Xe bong bóng chuyển động", "Khám phá từ trường trái đất", "Sự kỳ diệu của lực từ") có ứng dụng Facebook để hướng dẫn tự học.
  • Xây dựng trang/nhóm Facebook phục vụ dạy học, hình thành kho hồ sơ kết quả học tập của HS làm tài liệu tham khảo cho các khóa học tiếp theo.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Sở GD&ĐT và Ban Giám hiệu: Cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất CNTT, công nhận các hình thức dạy học kết hợp qua mạng, tổ chức tập huấn nâng cao năng lực ứng dụng MXH trong quản lý học tập cho GV.
  • Đối với Giáo viên Vật lí: Cần linh hoạt xây dựng nhiệm vụ học tập mở, theo sát tiến độ thảo luận trên mạng của HS, sử dụng Rubric minh bạch để đánh giá quá trình và kịp thời hỗ trợ khi HS gặp khó khăn trong tự học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nội dung thực nghiệm mới chỉ giới hạn ở một số đơn vị kiến thức thuộc phần Cơ học và Điện từ học (Vật lí 10 và 11); phạm vi thực nghiệm chỉ tiến hành tại hai trường THPT (THPT Lấp Vò 2 và THPT Lai Vung 1) trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu áp dụng quy trình và biện pháp bồi dưỡng NLTH sang các phần kiến thức khác của chương trình Vật lí THPT (như Quang hình, Vật lí hạt nhân), các môn khoa học tự nhiên khác, đồng thời thử nghiệm trên các nền tảng mạng xã hội và hệ thống quản trị học tập số khác.

Giá trị tham khảo

Văn bản luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giáo viên Vật lí THPT: Tham khảo cấu trúc 03 chủ đề dạy học thực nghiệm, hệ thống phiếu giao nhiệm vụ và quy trình hướng dẫn HS tự học qua nhóm Facebook.
  • Cán bộ nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Lý luận và PPDH: Tham khảo cơ sở lý luận, quy trình 5 bước xây dựng khung năng lực và bộ công cụ Rubric đánh giá định tính kết hợp định lượng.
  • Cán bộ quản lý giáo dục: Sử dụng các số liệu điều tra thực trạng và đề xuất quản trị để định hướng chính sách khai thác MXH vào hoạt động bổ trợ giáo dục chính khóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn mạng xã hội nào và vì sao?

Luận án lựa chọn mạng xã hội Facebook vì đây là nền tảng phổ biến nhất đối với học sinh THPT, có giao diện thân thiện, tính năng tương tác đa dạng (nhóm kín, đăng video/hình ảnh, bình luận, nhắn tin theo thời gian thực), giúp kết nối GV và HS mọi lúc, mọi nơi mà không tốn chi phí xây dựng hệ thống mới.

2. Khung năng lực tự học của học sinh trong luận án gồm những thành tố chính nào?

Khung năng lực tự học với sự hỗ trợ của Facebook gồm 3 năng lực thành tố cốt lõi: (1) Năng lực lập kế hoạch tự học; (2) Năng lực thực hiện kế hoạch tự học (tìm kiếm, xử lý thông tin và trao đổi trên mạng); (3) Năng lực tự kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh hoạt động tự học.

3. Ba chủ đề dạy học thực nghiệm trong luận án là gì?

Ba chủ đề dạy học được thiết kế và thực nghiệm gồm:

  • Chủ đề 1: "Xe bong bóng chuyển động" (phần Cơ học - Các định luật bảo toàn);
  • Chủ đề 2: "Khám phá từ trường trái đất" (phần Điện từ học - Từ trường);
  • Chủ đề 3: "Sự kỳ diệu của lực từ" (phần Điện từ học - Từ trường và Cảm ứng điện từ).

4. Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại đâu và trong thời gian nào?

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường THPT Lấp Vò 2 và Trường THPT Lai Vung 1 thuộc tỉnh Đồng Tháp qua 2 vòng thực nghiệm trong hai năm học 2017 - 2018 và 2018 - 2019.

5. Kết quả thực nghiệm sư phạm chứng minh điều gì?

Dữ liệu thống kê toán học và đánh giá Rubric chứng minh rằng nhóm HS học theo tiến trình có sự hỗ trợ của Facebook đạt kết quả học tập Vật lí cao hơn và có sự tiến bộ rõ rệt về các chỉ số hành vi của NLTH so với nhóm đối chứng học theo phương pháp truyền thống.


Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Văn Kiệt đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu đề ra về mặt lý luận và thực tiễn trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua mạng xã hội Facebook. Hệ thống 04 biện pháp sư phạm cùng 03 tiến trình chủ đề dạy học phần Cơ học và Điện từ học đã được kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả qua 2 vòng thực nghiệm tại tỉnh Đồng Tháp. Công trình cung cấp tài liệu tham khảo có cấu trúc chặt chẽ cho giáo viên và các nhà nghiên cứu phương pháp dạy học môn Vật lí trong giai đoạn đổi mới giáo dục.