Tổng quan nghiên cứu

Ngành Dệt may Việt Nam hiện là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp từ 10% đến 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Trường Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội giữ vai trò nòng cốt trong việc cung ứng nguồn nhân lực kỹ thuật cho ngành với đội ngũ 276 giảng viên cơ hữu và quy mô tiếp nhận từ 600 đến 800 lượt sinh viên thực tập sản xuất mỗi năm. Tuy nhiên, thực tế đào tạo cho thấy nhiều sinh viên chuyên ngành Công nghệ may sau khi tốt nghiệp vẫn còn bộc lộ sự thụ động, thao tác kỹ thuật chưa chuẩn xác và thiếu tác phong công nghiệp, khiến các doanh nghiệp tiếp nhận phải dành từ 3 đến 6 tháng để đào tạo lại.

Xuất phát từ thực tiễn trên, luận văn thạc sĩ của tác giả Đặng Thị Lan Anh, chuyên ngành Quản lý kinh tế tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Dương Văn Hiểu, đã tập trung giải quyết bài toán nâng cao năng lực thực hành cho sinh viên. Mục tiêu nghiên cứu bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển năng lực nghề nghiệp; khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng rèn luyện kỹ năng tay nghề tại Khoa Công nghệ may; phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ. Phạm vi nghiên cứu được triển khai trực tiếp tại Trường Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội trong giai đoạn đào tạo từ năm 2015 đến năm 2017, với thời gian thu thập dữ liệu chuyên sâu từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp giải pháp tái cấu trúc chương trình đào tạo từ 120 đến 140 tín chỉ, rút ngắn thời gian hòa nhập môi trường sản xuất của sinh viên xuống dưới 1 tháng và hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên có việc làm đúng chuyên ngành đạt trên 90%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết năng lực hành động nghề nghiệp của Franz Weinert và khung chuẩn đánh giá năng lực của tổ chức DeSeCo. Theo đó, năng lực của một cá nhân là sự kết hợp hữu cơ giữa hệ thống tri thức, kỹ năng thao tác và thái độ làm việc nhằm giải quyết hiệu quả các tình huống nghề nghiệp cụ thể. Nghiên cứu cũng kế thừa phương pháp luận từ Cẩm nang phân tích chính sách và kế hoạch hóa giáo dục của UNESCO ban hành năm 2013, kết hợp quan điểm đổi mới giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW.

Hệ thống khái niệm cốt lõi trong nghiên cứu gồm:

  1. Năng lực thực hành ngành may: Khả năng vận hành thiết bị, thực hiện chuẩn xác các công đoạn may ráp, làm chủ tốc độ máy, kiểm soát sai hỏng kỹ thuật và tổ chức dây chuyền sản xuất ra sản phẩm đạt chuẩn đơn hàng.
  2. Nâng cao năng lực: Quá trình bồi dưỡng, gia tăng kỹ năng, kỹ xảo và năng suất lao động cá nhân thông qua học tập và rèn luyện có chủ đích.
  3. Đào tạo theo học chế tín chỉ: Phương thức tổ chức đào tạo theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT, lấy người học làm trung tâm, tích lũy kiến thức theo từng học phần với quy chuẩn 1,5 đơn vị học trình lý thuyết hoặc 1 đơn vị học trình thực hành tương đương 1 tín chỉ.
  4. Thực hành sản xuất: Quá trình người học trực tiếp tham gia vào dây chuyền sản xuất tạo ra của cải vật chất tại nhà xưởng, gắn liền lý luận với thực tế kinh doanh của doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ 15 văn bản, báo cáo tổng kết đào tạo giai đoạn 2015-2017 của Phòng Đào tạo, Khoa Công nghệ may, Trung tâm Đảm bảo chất lượng và Trung tâm Sản xuất Dịch vụ. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra bằng phiếu hỏi đối với 3 nhóm đối tượng trọng điểm.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 103 đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích:

  • 38 giảng viên Khoa Công nghệ may, chiếm 100% đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy cả lý thuyết lẫn hướng dẫn thực hành xưởng.
  • 60 sinh viên hệ cao đẳng chính quy năm cuối chuẩn bị tốt nghiệp, đại diện cho nhóm người học đã trải qua trọn vẹn chu trình thực tập sản xuất.
  • 05 cán bộ quản lý, đại diện các doanh nghiệp may thường xuyên tiếp nhận sinh viên của nhà trường đến thực tập và làm việc.

Phương pháp phân tích dữ liệu sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2007 để thống kê mô tả, tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa khách quan mức độ đánh giá giữa người dạy, người học và nhà tuyển dụng, từ đó đối chiếu khoảng cách giữa chất lượng đào tạo của nhà trường và nhu cầu của thị trường lao động. Toàn bộ lộ trình nghiên cứu và khảo sát thực địa được hoàn thành trong thời gian 14 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về điều kiện cơ sở vật chất, Trường Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội sở hữu 40 phòng học thực hành may và một Trung tâm Sản xuất Dịch vụ quy mô hơn 600 lao động với hơn 2.500 thiết bị máy móc. Tuy nhiên, cơ cấu trang thiết bị còn nhiều hạn chế khi có tới 80% đến 85% là máy may cơ học thông thường, chỉ 15% đến 20% là thiết bị điện tử có chức năng cắt chỉ tự động, và hoàn toàn chưa được trang bị hệ thống máy may tự động hoặc bán tự động hiện đại.

Thứ hai, về năng lực đội ngũ giảng viên, toàn bộ 38 giảng viên của khoa đều đạt chuẩn chuyên môn, với hơn 50% có trình độ thạc sĩ trở lên và sở hữu kỹ năng tay nghề thợ bậc cao. Dẫu vậy, phương pháp giảng dạy thực hành vẫn nặng về truyền thụ một chiều theo kiểu cầm tay chỉ việc, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và phương tiện trực quan vào mô phỏng dây chuyền sản xuất còn đơn điệu, chưa kích thích tư duy tự học của sinh viên.

Thứ ba, về kế hoạch tổ chức thực hành, do lưu lượng sinh viên thực tập hàng năm quá lớn từ 600 đến 800 lượt trong khi diện tích xưởng có hạn, nhà trường phải bố trí các đợt thực tập kéo dài từ học kỳ 1 năm thứ hai đến cuối học kỳ 1 năm thứ ba. Những sinh viên phải đi thực tập sớm từ đầu năm thứ hai khi kiến thức chuyên ngành còn mỏng và tay nghề chưa vững gặp nhiều áp lực, tạo ra khoảng cách chênh lệch kỹ năng lên tới 35% đến 40% so với nhóm sinh viên đi thực tập ở năm thứ ba.

Thứ tư, về sự phối hợp sản xuất, việc thực hành của sinh viên tại Trung tâm Sản xuất Dịch vụ bị chi phối hoàn toàn bởi tiến độ các đơn hàng xuất khẩu đi hơn 30 quốc gia thay vì tuân thủ theo trình tự sư phạm từ dễ đến khó. Kết hợp với việc hơn 45% sinh viên thừa nhận ít khi đọc trước giáo trình hoặc chuẩn bị bài tập tự học, năng suất thực tế của sinh viên trong các đợt đầu chỉ đạt 50% đến 60% định mức ca sản xuất của công nhân lành nghề.

Thảo luận kết quả

Các số liệu khảo sát được biểu diễn rõ nét qua bảng phân tích cơ cấu thiết bị máy móc (đối chiếu tỷ lệ 15% - 20% máy điện tử với 80% - 85% máy cơ) và biểu đồ phân bổ mức độ hài lòng của sinh viên về tính liên tục của kế hoạch thực tập. Thực trạng này bắt nguồn từ việc nguồn vốn đầu tư công nghệ cao còn hạn hẹp, đồng thời thói quen học tập thụ động từ bậc phổ thông khiến sinh viên chưa chủ động thích ứng với phương thức đào tạo tín chỉ.

Kết quả này củng cố luận điểm của tác giả Phan Chính Thức khi cho rằng đào tạo nghề muốn thành công phải bám sát thị trường công nghệ, đồng thời tương đồng với kết luận của Lưu Thị Duyên về sự mất cân đối giữa quy mô đào tạo và năng lực thiết bị xưởng thực hành. Điểm đột phá trong nghiên cứu của Đặng Thị Lan Anh là đã chỉ ra tính hai mặt của mô hình gắn xưởng sản xuất dịch vụ với đào tạo: nếu không kiểm soát tốt việc phân bổ mã hàng sư phạm, áp lực tiến độ đơn hàng xuất khẩu sẽ làm giảm hiệu quả rèn luyện kỹ năng cơ bản của sinh viên.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các tồn tại và nâng cao chất lượng tay nghề cho sinh viên ngành Công nghệ may, luận văn đưa ra 5 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn chỉnh quy chế và chuẩn hóa chương trình đào tạo: Ban Giám hiệu cùng Khoa Công nghệ may rà soát, tái cấu trúc toàn bộ học phần thực hành trong khung 120 đến 140 tín chỉ, tăng thời lượng rèn luyện kỹ năng lên 60% tổng thời lượng chuyên ngành, hoàn thành trong vòng 6 tháng.
  2. Điều chỉnh tiến độ và kế hoạch thực tập sản xuất: Phòng Đào tạo phối hợp Trung tâm Sản xuất Dịch vụ chia nhỏ 600 đến 800 lượt sinh viên thành các nhóm từ 15 đến 20 người, chỉ bố trí thực tập xưởng sau khi sinh viên hoàn thành tối thiểu 80% khối lượng lý thuyết công nghệ (từ học kỳ 2 năm thứ hai), phấn đấu nâng tỷ lệ sinh viên đạt định mức sản phẩm lên trên 85% trong lộ trình 12 tháng.
  3. Đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật: Nhà trường và Phòng Quản trị Đời sống nâng tỷ lệ máy may điện tử tự động từ mức 15% - 20% hiện nay lên trên 50%, trang bị thêm 2 đến 3 chuyền may mẫu bán tự động và phần mềm thiết kế rập kỹ thuật số trong giai đoạn 2 năm.
  4. Nâng cao năng lực sư phạm và thực tiễn cho giảng viên: Khoa Công nghệ may tổ chức cho 100% trong số 38 giảng viên tham gia thực tế tại các doanh nghiệp may xuất khẩu từ 1 đến 2 tháng mỗi năm, đồng thời duy trì định kỳ 2 đợt hội giảng phương pháp dạy học tích cực hàng năm.
  5. Đổi mới quy trình kiểm tra và đánh giá kỹ năng: Trung tâm Đảm bảo Chất lượng xây dựng thang điểm đánh giá tích hợp ba bên gồm: giảng viên chấm 40%, cán bộ kỹ thuật xưởng chấm 40% và sinh viên tự đánh giá 20%, áp dụng 100% tiêu chí kiểm định chất lượng theo chuẩn công nghiệp xuất khẩu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giàu giá trị khoa học và ứng dụng cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý và Ban Giám hiệu các trường đại học, cao đẳng kỹ thuật: Học hỏi mô hình kết hợp đào tạo với Trung tâm Sản xuất Dịch vụ quy mô 600 lao động nhằm khai thác nguồn thu và tối ưu hóa chi phí vận hành xưởng thực hành.
  • Giảng viên chuyên ngành Công nghệ may và Sư phạm kỹ thuật: Vận dụng phương pháp biên soạn bài giảng tích hợp, thiết kế hệ thống phiếu bài tập tự học và áp dụng các kỹ thuật hướng dẫn thao tác chuẩn xác trong 40 phòng thực hành may.
  • Doanh nghiệp Dệt may và cán bộ nhân sự: Nắm bắt sát thực trạng tay nghề của sinh viên mới tốt nghiệp, từ đó phối hợp với nhà trường xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề và rút ngắn thời gian thử việc của lao động mới.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Quản lý kinh tế, Quản lý giáo dục: Tham khảo quy trình thiết kế bảng hỏi cho 103 đối tượng, phương pháp xử lý dữ liệu thực nghiệm bằng phần mềm Excel 2007 và phương pháp đánh giá tác động của học chế tín chỉ.

Câu hỏi thường gặp

Năng lực thực hành của sinh viên ngành Công nghệ may bao gồm những thành tố nào? Năng lực thực hành ngành may cấu thành từ kiến thức quy trình công nghệ, kỹ năng vận hành các loại máy may cơ học và điện tử, khả năng xử lý sai hỏng đường may và tác phong kỷ luật công nghiệp. Nghiên cứu chỉ ra sinh viên cần làm chủ hơn 2.500 thiết bị chuyên dụng và hoàn thành 100% định mức mã hàng để đáp ứng yêu cầu tuyển dụng.

Tại sao việc bố trí 600 đến 800 sinh viên thực hành lại gặp khó khăn về tiến độ? Do quy mô xưởng thực hành giới hạn ở 40 phòng học và Trung tâm sản xuất chỉ có hơn 600 vị trí lao động, nhà trường buộc phải chia ca thực tập kéo dài từ năm thứ hai đến năm thứ ba. Điều này khiến nhóm sinh viên đi thực tập sớm khi chưa đủ kiến thức nền tảng gặp áp lực lớn, tạo ra chênh lệch tay nghề từ 35% đến 40%.

Cơ cấu 80% đến 85% máy may cơ học ảnh hưởng thế nào đến chất lượng đào tạo? Tỷ lệ máy may cơ học chiếm từ 80% đến 85% trong khi máy điện tử chỉ đạt 15% đến 20% khiến sinh viên bị hạn chế tiếp cận công nghệ tự động hóa hiện đại. Khi đến làm việc tại các doanh nghiệp may xuất khẩu sang Mỹ hay châu Âu, sinh viên phải mất từ 2 đến 3 tháng để làm quen lại với hệ thống máy may lập trình tự động.

Đào tạo theo học chế tín chỉ đặt ra thách thức gì đối với việc rèn luyện tay nghề may? Học chế tín chỉ theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT đòi hỏi tinh thần tự học cao với quy đổi 1 tín chỉ thực hành tương đương 1 đơn vị học trình. Tuy nhiên, hơn 45% sinh viên còn thụ động, ít nghiên cứu trước giáo trình dẫn đến việc giảng viên phải hướng dẫn lại từng thao tác cơ bản, làm giảm 30% hiệu suất giờ dạy thực hành.

Mô hình kiểm tra đánh giá ba bên mang lại lợi ích gì cho sinh viên ngành may? Mô hình đánh giá kết hợp giảng viên chấm 40%, cán bộ doanh nghiệp chấm 40% và sinh viên tự đánh giá 20% giúp phản ánh chính xác 100% năng lực làm việc thực tế. Việc gắn điểm số với tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm xuất khẩu giúp sinh viên nâng tỷ lệ hoàn thành định mức chuyền may lên trên 85% trước khi ra trường.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết về năng lực thực hành nghề may trong điều kiện chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ.
  • Lượng hóa chính xác thực trạng đào tạo tại Trường Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội thông qua bộ dữ liệu khảo sát từ 103 đối tượng gồm 38 giảng viên, 60 sinh viên và 5 doanh nghiệp.
  • Nhận diện rõ các điểm nghẽn then chốt từ cơ cấu 80% đến 85% thiết bị cơ học đến sự phụ thuộc vào tiến độ đơn hàng sản xuất tại nhà xưởng.
  • Thiết lập hệ thống 5 giải pháp quản lý đồng bộ từ chuẩn hóa khung chương trình đến mục tiêu nâng tỷ lệ máy may điện tử tự động lên trên 50%.
  • Khẳng định mô hình liên kết đào tạo gắn liền với xưởng sản xuất dịch vụ là hướng đi tất yếu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dệt may Việt Nam.

Lộ trình triển khai các giải pháp được khuyến nghị thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2018 - 2022 nhằm hiện đại hóa 100% trang thiết bị xưởng thực hành và chuẩn hóa đầu ra cho sinh viên. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp khối kỹ thuật dệt may cần nhanh chóng áp dụng khung giải pháp quản lý thực hành tích hợp này để nâng cao năng lực cạnh tranh cho người học trên thị trường lao động.