Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN 1. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề 1. Vấn đề là gì tong từ điền tiếng Việt của Hoàng Phê và cộng sự (2003), vấn để ld điểu cẩn (được xem xát, nghiên cứu, giải quyết Cổ quan niệm cho rằng vấn đề dùng để chỉ một khó khăn, một nhiệm vụ nhận thức mà người học không giải quyết được chỉ bằng kinh nghiệm sẵn có, nghĩa là không thể dùng tư duy tất hiện đơn thuần để giải quyết, mà phải m tồi sáng tạo để giải quyết và khi giải quyết được thì người học thu nhận kiến thức, kỹ năng, cách thức hành động mới.
`Vấn để chứa đựng câu hỏi về một cái chưa biết, câu hỏi mà câu tr lời là một cải mới phải tìm tôi sing tao méi xây dụng được, chữ không phải là câu hồi chỉ đơn thuần yêu cầu nhớ lại kiến thức đã có. Preecha Naoyenphon (1994) đã thảo luận về ý nghĩa của các vin đề toán học có thổ tóm tắt như sau. ¡, Đó là một tình huỗng toán học đòi hỏi câu trả lời nằm ở những con số hoặc lời giả thích hợp lý ii, D6 là tình huống mà người giải quyết vấn để chưa quen thuộc trước đây. CCâu tr li không thể m ra nguy lập ức, đồi hỏi phải sử dụng nhiễu kỹ năng, kiến thức và cùng nhau sử lý để m ra câu tr lôi i i.
Một tình huỗng có phải là vấn để hay không phụ thuộc vào người giải quyết vẫn để và thời gian Một tình huồng có th là vấn đề đối với người này nhưng có thể không phải là vấn đề đối với người khác. Và những tình huồng trước đây từng là vẫn đề đổi với một người có thể không còn là vẫn để đối với người đó bây giờ. Các vẫn đề toán học là nhiệm vụ mà các cá nhân phải đỗi mặt và muốn ủm câu tr lõi nhưng không thể tim ra câu trả lời ngay lập tức. Đỏ là một vẫn để sẽ gặp phải khi học toán.
Giải quyết các vấn để khác nhau phải sử dụng khả năng giải quyết vấn để và kiến thức toán học đã học. Viện Khuyển khích giảng dạy Khoa học và Công nghệ Thái Lan (2012) néu ring vin đề toán học là một tình huống hoặc câu hỏi có nội dung, quy trình hoặc kiến thức mà học sinh chưa từng thấy trước và không thể tìm ra câu trả lời ngay lập tức. Việc ầm ra câu tr ôi đôi hỏi kiến thức và kính nghĩ về án học và các ngành khoa học khác bao gồm khả năng tư duy phân tích tổng hợp để đưa ra lý do và đưa ra quyết định. Theo Nguyễn Bá Kim (2014, 184) cho ring: “Mér bài roán được gọi là vấn để nếu chủ thể chưa có trang tay một thuật giải có thé dp dung dé giải bài tán đổ “heo La Leene: “Vấn để là một câu hỏi này ra hay được đặt ra cho chủ thả.
mà chủ thể chưa biết lồi giải từ trước và phải tìm tồi sting igo loi giải, nhưng chủ thể đã có sẵn một số phương tiện ban đầu để sử dụng thích hợp vào việc từn tồi nó " Nguyễn Văn Cường (2010, 24) cho rằng: "Vấn đ là những câu hỏi hay nhiệm vu dat ra ma việc giải quyếi chúng chưa có quy luật sẵn cũng như trì thức, kỹ năng sẵn cũ chưa đủ giải quyết mà củn khó khăn, củn trở cần vượi qua". Qua đô, tác giả đã nêu ra các thành phần đặc trưng của một vấn để gồm có: "Trạng thái xuất phát: không mong muỗn: trạng thái đích: trạng thái mon muốn; Sự căn trở". Cũng theo ông, sự khác nhau giữa vẫn để và nhiệm vụ thông thường là khi giải quyết một nhiệm vụ thì theo trình tự va cách thức giải quyết, với kiến thức và kỳ năng đã có đủ để dải quyết nhiệm vụ đó, Do đó, có thể nhận thấy, vấn đề chi mang tính chất tương đối, cùng một bài toán có thể là vẫn đề của học sinh này nhưng không phải là vấn đề với học sinh khác, hoặc trong tình huồng này là vẫn đề nhưng trong tinh huồng khác lại không phải vấn đề. các vấn đề khác nhau trong toán học được giải quyết theo nhiều cách khác nhau.
Nhu vậy, vẫn đề trong day học toán trung học cơ sở là một bài oán mà học sinh chưa bit cách giải qu nhưng có đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết để giải quyết 112, quyết vấn đề “Quy tình giải quyết đề toán học theo khái niệm của Polya Polya (1985, trích dẫn trong Ampom Makanong, 2010) đã một quy trình giải toán để học sinh hiểu bài toán một cách đầy đủ. Giải quyết vẫn để được lập kế hoạch và thực hiện một cách có hệ thống và hiệu quả. Kết quả là câu trả lời <iing hoặc giải pháp hợp lý từ việc giải quyết vẫn đẻ, quả trình nói trên có 4 bước mm Bước 1: Tìm hiểu vấn đề (hiền được vẫn đỒ, Bước này l bước phân ích để hiểu vấn đề. HS có thể tìm ra những gì các em muốn biết, những thông tin nào có.
sẵn, những điều kiện là gì. VẤn để sẽ được giải quyết theo các điều kiện? Các diễn kiện đã cho là đù để giải quyết vấn đề hay không ở giai đoạn này? Vẻ, sử dụng các ký hiệu, chỉa nh trọng thành các phần nhỏ hơn có thể giúp iễu rõ hơn vẫn để Bước 2: Lập kế hoạch. Bước này là bước liên kết giữa thông in trong vẫn để HS muốn bi. Nếu không thể thực hiện kết nối ngay lập ú có thể phải sử dụng.
các vấn đề khác để ưrợ g p dé cubi cùng có kế hoạch giải quyết vấn đ, Người giải quyết vẫn để có thể bắt đầu bằng cách nại tằng họ đã nhìn thấy một vấn đẻ. Cái này đến từ đâu tước đây? HS đã từng gặp một vấn để tương tự chưa? HS sẽ sử “dụng những kiến thức hoặc phương pháp nào để giải quyết vấn dé đó? Vấn đề nào số thể được giải quyết trước? nó chuyển đổi dữ liệu hiện có thành mới. Vì vậy, những gì HS muốn biết và thông in hiện có có thể liên quan hơn? Thông tin và điều kiện được sử dụng đã thích hợp chưa? Bước 3: Thực hiện kế hoạch. Bước này là thực hiện hình động theo kế hoạch.
Mỗi bước thực hiện đều được kiểm tra xem có đúng hay không. Lâm thể nào HS có thể chắc chắn? Đó là sự theo dõi thực hiện theo kể hoạch để rà Bước 4: Kiểm chúng. Đây là bước kiểm tra cầu r lồi hay cách giải quyết vấn đỄ có phù hợp với thông tin, điều kiện nêu rong bãi toán hay không?, Điễu này có thể bao gồm việc mở rộng ý tưởng từ kết quả hoặc cầu trả lời thu được và phân tích các cách khác để giải quyết vẫn để Giải oán theo quy tình của Polya là điều mà cả gio viên và học sinh đều sen thuộc và được sử đụng từ âu rong việc dạy học giải oán. Trong thực tế, việc thực hiện quy trình này thường chỉ bao gồm một số bước.
Do hạn chế về thời gian và các yếu tố khác nên một số bước phải được thu gọn lại với nhau, chẳng hạn như. kết hợp bước lập kế hoạch và bước thực hiện kế hoạch lại với nhau hoặc thực hiện một số bước ngắn gon hơn như chí kiểm tra tinh hợp lý ở bước truy xuất nguồn gốc để việc giải quyết vẫn đề ngắn gọn, nhanh chóng hơn và để học inh không cảm thấy khó chịu. Mặc dù việc giải quyết vẫn đề rắt phức tạp nhưng quy trình giải quyết vẫn đề của Polya lại rất hữu ích. Vì nó giáp học sinh có nguyên tắc tư duy Bi này cho phép HS thực hành giải quyết vấn đề một cách có hệ thống, lập kế hoạch và chỉ đạo công việc một cách liên tục.
Viện Xúc tiết giảng dạy Khoa học và Công nghệ Thái Lan (2017) cho rằng, quá trình giải quyết vấn đề toán học được sử dụng phổ biến trong việc giải các bài toán. Nó bao gồm 4 bưởi quan rọng như sau Bước 1: Tìm hiểu vấn đề. Bước này là để xem xét vẫn để là gì trong tình huồng nhất định. Người học muỗn xác định điều gi?Có liên quan đến những kiến thức gì? Hiểu vấn đỀ có th liên quan đến việc sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như vẽ tranh, it bảng hoặc viết ra các tình hung có vẫn để bằng ngôn ngữ sửa mình Bước 2: Lập kế hoạch giải qu) ết vấn đề.
Bước này là để xem xét cách giải quy vấn đỀ, Cách giải quyết vẫn đề bao gồm việc xem mỗi quan hệ giữa các su vat trong vẫn đề kết hợp với kinh nghiệm giải quyết vẫn đề mà người học có được để xác định cách iếp cận giải quyết vẫn để và lựa chọn chiến lược giải quyết vấn để. Bước 3: Giải quyết vẫn để, Bước này liên quan đến việc lầm theo kế hoạch hoặc hưởng dẫn cho đến khi HS có thể ầm thấy câu trả lời có. Nêu kế hoạch đã chọn không thể tim ra câu trả lồi cho người học, mỗi bước trong kế hoạch phải được xác mình hoặc lựa chọn chiến lược mới cho đến khi tìm được câu trả lời Bước 4: Kiểm chứng, Bước ày nhằm xem xéttính đúng đắn, hợp lý của câu tr lời, người học có thể nhìn ại và xem xét các chiến lược khác để m ra câu tr lồi và mở rộng ý tưởng để áp dụng cho các tình hong bài toán khác. Quy tình giải quyết vấn để toán học có thể kết luận rng Quá tình giải quyết vn đề rong học toấn của HS thường bắt ng việc xem xét bi toán, thông tín liên quan đến vẫn đề.
Nguyễn Văn Cường (2010, 26) mô tả cẫu trúc của quá tình giải quyết vá bao gồm các bước như sau: Đó là việc phân tích các tình huống đặt ra. nhận biết được vấn đề. Bước 2: Tìm các phương ân giải quyết Đó là việc tìm các phương án khác nhau để giải quyết vấn đỀ, có sự so sánh, liên hệ với nt ch gi quyết vẫn đề với nhiễu phương án, Trường họp gập khổ khăn hoặc không tìm ra được phương án giải quyết thì cần trở lại việc nhận cđề để kiểm tra lại việc nhận biết và hiểu vấn để. Bước 3: Quyết định phương án giải quyết Cần được phân tích, so sánh và đánh giá các phương án xem có thể thực hiện được vi GQVD hay khéng.
Trường hợp có nỉ bu phương án tì cần so sảnh để chọn được phương án ối ưu. Nếu việc kiểm tra các phương án đã đỀ xuất đưa đến kết quả là không giải quyết được vấn để thì cần trở lại giai đoạn tim kiểm phương.