Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC TRỰC TUYẾN CHO NHÀ GIÁO GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Sự phát triển của Khoa học – Công nghệ, tác động của cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) và những thách thức toàn cầu như đại dịch Covid – 19 vừa qua buộc giáo dục phải thay đổi. Trong đó nổi bật và thu hút nhiều sự quan tâm trong giáo dục là việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục, làm thay đổi hình thức, phương pháp dạy học, từ lớp học truyền thống giới hạn trong không gian địa lý, nay đã xuất hiện lớp học trực tuyến, lớp học ảo để người học có thể học tập ở mọi lúc, mọi nơi.
Mỗi bước phát triển ứng dụng công nghệ vào dạy học gắn với một sự thay đổi trong phương pháp sư phạm. Trong giai đoạn đầu dạy học trực tuyến gắn với việc sử dụng các ứng dụng hỗ trợ, việc giảng dạy và học tập tập trung vào các mô hình học với sự trợ giúp của máy tính và đặt nặng vào việc rèn luyện và thực hành nhờ các phần mềm. Lúc này, vai trò quan trọng của giảng viên là tạo dựng và truyền đạt kiến thức. Để thực hiện vai trò của giảng viên đáp ứng yêu cầu phát triển của đào tạo, khác với dạy học trực tiếp, nhà giáo dạy học trực tuyến cần có kỹ năng, năng lực tổ chức, thực hiện bài giảng phù hợp.
Về năng lực, vai trò của giảng viên dạy học trực tuyến, các tác giả trên thế giới đã đưa ra những quan điểm như sau: Tác giả Williams (2003) thì phân loại các năng lực của giảng viên dạy học trực tuyến gồm: giao tiếp và tương tác, hướng dẫn và học tập, quản lý và quản trị, và sử dụng công nghệ. Tác giả Varvel (2006) đã tóm tắt năng lực giảng viên trực tuyến từ bảy khía cạnh: hành chính tức là hệ thống giáo dục, mối quan tâm đạo đức và các vấn đề pháp lý; cá nhân gồm trình độ, đặc điểm; công nghệ là kiến thức, kỹ năng về công nghệ; thiết kế hướng dẫn là thành phần quá trình dạy và học; sư phạm là giai đoạn quá 6 trình học tập, phong cách học tập, đặc điểm sinh viên; đánh giá là về học tập, thành tích; và khía cạnh xã hội. Bawane và Spector (2009) chỉ ra rằng, trong số các vai trò được xác định, vai trò sư phạm được ưu tiên cao nhất, tiếp theo là vai trò chuyên môn, đánh giá, xã hội và công nghệ. Trong khi các tác giả Guasch, Alvarez và Espasa (2010) nhận định: năng lực điện tử dựa trên tài liệu bao gồm chức năng thiết kế /lập kế hoạch, chức năng xã hội, chức năng hướng dẫn, lĩnh vực công nghệ và lĩnh vực quản lý.
Và tác giả cho rằng nhà giáo có vai trò hướng dẫn lập kế hoạch thiết kế hướng dẫn từ mục tiêu đến đánh giá bài học, cải thiện mối quan hệ và giao tiếp với sinh viên, hướng dẫn và tạo điều kiện học tập cho người học và quan trọng, sử dụng công nghệ cần thiết và tổ chức sửa đổi quy trình trực tuyến. UNESCO (2011) đã nhấn mạnh rằng, trong khung năng lực CNTT và truyền thông cho giảng viên thì giảng viên phải là một ví dụ điển hình trong việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết và làm gương cho học sinh trong môi trường học tập ảo. Geir Ottestad và cộng sự (2014), khi mô tả về năng lực số trong hoạt động nghề nghiệp của nhà giáo, đã cho rằng, có ba thành tố năng lực chính, bao gồm: - Năng lực số chung thông qua kiến thức liên ngành và chuyên ngành mà nhà giáo nên có để hoạt động trong lĩnh vực giáo dục số; - Năng lực số của dạy học bộ môn là những lĩnh vực số cụ thể trong mỗi chủ đề học tập mà nhà giáo phải biết. Ví dụ như ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy toán, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy ngoại ngữ hay sư phạm; - Năng lực số theo định hướng nghề nghiệp mô tả đặc điểm số của nghề nghiệp dạy học mở rộng.
Ba thành tố trên mô tả thực tế về sư phạm chung, bộ môn cụ thể và nghiên cứu về nghiệp vụ dạy học. Năm 2018, OlenaKuzminska1 và cộng sự đã nghiên cứu đánh giá năng lực số của sinh viên và giảng viên tại Ukraine. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên và nhà 7 giáo ở Ukraine sử dụng công cụ và giao tiếp số ở mức trên trung bình. Trong khi đó, cấp độ năng lực nghề nghiệp sử dụng IT thì sinh viên lại cao hơn nhà giáo.
Đồng thời nhà giáo có trình độ ứng dụng IT cao hơn trong hoạt động dạy học. Theo mô hình này, năng lực số của nhà giáo bao gồm: - Năng lực kỹ thuật là kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực công nghệ số; - Năng lực sư phạm là kiến thức và kỹ năng về sư phạm công nghệ (sư phạm số); - Thái độ là thái độ tích cực và cởi mở đối với công nghệ mới; Đạo đức là những hiểu biết về đạo đức trong sử dụng công nghệ thông tin, cũng như sử dụng công nghệ số Tóm lại, tuy có những quan điểm khác nhau về vai trò của nhà giáo và năng lực nhà giáo cần có để đáp ứng vai trò trong dạy học trực tuyến, song đa phần các tác giả quan tâm đề cập đến năng lực chuyên môn nghề, năng lực giao tiếp, năng lực sử dụng công nghệ, năng lực thiết kế/lập kế hoạch, năng lực tổ chức quản lý lớp học, năng lực kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Trong đó, người nghiên cứu đồng quan điểm với nhận định của các tác giả Guasch, Alvarez và Espasa khi cho rằng nhà giáo có vai trò hướng dẫn lập kế hoạch, thiết kế, hướng dẫn từ mục tiêu đến đánh giá bài học, cải thiện mối quan hệ và giao tiếp với sinh viên, hướng dẫn và tạo điều kiện học tập cho người học và quan trọng, sử dụng công nghệ cần thiết và tổ chức sửa đổi quy trình trực tuyến. Và để thực hiện vai trò đó khi dạy học trực tuyến, nhà giáo phải có năng lực thiết kế bài học, lựa chọn nội dung, nguồn học liệu; khả năng giao tiếp để tổ chức tương tác trong lớp học trực tuyến và khả năng kiểm tra đánh giá kết quả học tập trực tuyến của sinh viên.
Đây cũng là cơ sở lý luận mà người nghiên cứu lựa chọn sử dụng làm định hướng trong quá trình thực hiện đề tài. Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, ngành giáo dục những năm qua đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở dạng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ cho lớp học truyền thống là chính. Các lớp học trực tuyến 8 mới chỉ tập trung ở các chương trình đào tạo từ xa, các khóa bồi dưỡng ngoại ngữ, kỹ năng của các trung tâm ngoại ngữ, trung tâm bồi dưỡng kỹ năng… Khi dịch Covid-19 bùng phát, các trường học trên cả nước phải tạm thời đóng cửa, song với phương châm “ngừng đến trường, không dừng học”, các trường đã chuyển sang tổ chức dạy học trực tuyến kết hợp dạy học trên truyền hình. Các lớp học số, lớp học ảo đã phát triển mạnh.
Người học sẽ quen dần với việc học tập qua mạng internet, cùng với sự hướng dẫn của giáo viên ảo. Đây là xu hướng phát triển tất yếu trong hoạt động đào tạo nói chung, GDNN nói riêng. Vai trò của nhà giáo sẽ chuyển dần từ truyền thụ kiến thức, sang hướng dẫn học sinh phát hiện kiến thức mới. Để thích ứng, tổ chức dạy học trực tuyến đạt hiệu quả thì giảng viên cần kiến thức, kỹ năng và trình độ mới về cách dạy trực tuyến hiệu quả và thích ứng của việc học tập trực tuyến vào công tác giảng dạy.
Những nghiên cứu gần đây về dạy học trực tuyến ở Việt Nam đã chỉ ra việc phát triển đội ngũ nhà giáo có năng lực dạy học trực tuyến là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Song hầu như rất ít tài liệu chỉ ra những năng lực cụ thể cần thiết để bồi dưỡng cho giảng viên dạy trực tuyến đạt hiệu quả. Tác giả Đỗ Văn Dũng (2018) đã nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tuy nhiên chưa đề xuất cụ thể việc phát triển năng lực đội ngũ giảng viên dạy học trực tuyến. Tại hội thảo Giáo dục Việt Nam tác giả Bùi Văn Hồng (2019) đã có bài phân tích tác động của cuộc CMCN 4.0 đến hệ thống GDNN, yêu cầu năng lực của nhà giáo và thực trạng về đội ngũ nhà giáo GDNN hiện nay, bài viết đề xuất một số giải pháp phát triển nhà giáo GDNN thích ứng cuộc CMCN 4.0 làm cơ sở định hướng cho việc phát triển đội ngũ nhà giáo tại các cơ sở GDNN trong cả nước.
Đặng Minh Sự và đồng tác giả (2020) cũng chỉ ra sự cần thiết của việc đào tạo, bồi dưỡng phát triển năng lực thiết kế và tổ chức DHTT, nhấn mạnh đây là 1 trong 5 giải pháp ứng dụng CNDH và chuyển đổi số cho đào tạo tại cơ sở GDNN. Trong đó chỉ ra các năng lực cần đào tạo, bồi dưỡng phát triển cho nhà giáo là năng lực thiết kế và tổ chức DHTT, năng lực khai thác và sử dụng dữ liệu số cho nhà giáo. Nghiên cứu về năng lực DHTT, tác giả Trần Quang Thuận (2019) đã nghiên cứu việc phát triển năng lực đội ngũ giảng viên dạy học trực tuyến nhưng chỉ thực hiện ở 9 một cơ sở đào tạo là Học viện Công nghệ bưu chính Viễn thông, nên để nhân rộng thì cần phải có những nghiên cứu bổ sung. Tác giả Bùi Văn Hồng, Bùi Thị Ngọc Nguyên và Lê Thị Phương Duyên (2021) đã nghiên cứu phát triển chương trình bồi dưỡng năng lực DHTT, trong đó các tác giả đã làm rõ khái niệm về năng lực DHTT và cấu trúc của năng lực DHTT của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp nói chung.
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung nghiên cứu có thể khẳng định đến thời điểm hiện tại rất ít công trình nghiên cứu đề cập về phát triển năng lực dạy học trực tuyến cho nhà giáo giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn TPHCM. Các khái niệm sử dụng trong đề tài 1. Khái niệm năng lực dạy học trực tuyến 1.