Chương 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH DỆT MAY XUẤT KHẨU VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái niệm vai trò của cạnh tranh Cạnh tranh là một thuật ngữ rất phổ biến trong kinh tế, là một đặc trưng của nền sản xuất hàng hóa.
Theo ý nghĩa kinh tế, cạnh tranh là quá trình kinh tế trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, tối đa hóa lợi ích, nâng cao vị thế trên thị trường. Tuy nhiên, những mục tiêu này mới chỉ đúng trong phạm vi cấp doanh nghiệp. Mục tiêu cạnh tranh xét trên tầm vĩ mô còn phải kể đến khả năng tạo thêm thu nhập, việc làm và nâng cao phúc lợi cho người dân. Trên mọi phương diện, cạnh tranh đều có vai trò rất lớn để mọi hoạt động kinh tế diễn ra một cách hiệu quả, qua đó thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Trên bình diện quốc tế: Cạnh tranh kích thích các doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động và thị trường. Thông qua cạnh tranh, giao thương quốc tế ngày càng được mở rộng, thúc đầy quá trình chuyên môn hóa sản xuất. Trên bình diện quốc gia: Cạnh tranh khiến các nguồn lực được phân bổ một cách hiệu quả nhất, cạnh tranh giúp các nhà sản xuất luôn sử dụng các nguồn lực một cách tiết kiệm nhất. Cạnh tranh còn góp phần phân phối lại thu nhập và nâng cao phúc lợi xã hội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS.
Đỗ Thị Hương Trên bình diện doanh nghiệp: Nâng cao năng lực cạnh tranh luôn là mục tiêu phát triển thường trực và lâu dài của mỗi doanh nghiệp. Bằng sự thúc đẩy của lợi nhuận, doanh nghiệp luôn muốn đi đầu về chất lượng, giá cả, mẫu mã, dưới áp lực phá sản, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp không ngừng cải tiến phương thức sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới cách quản lý doanh nghiệp một cách hiệu quả. Khái niệm năng lực cạnh tranh Trong thực tế, tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về sức cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh. Đó là bởi cụm từ này là một phạm trù quá lớn để có thể tiếp cận từ mọi khía cạnh.
Chủ thể cạnh tranh có thể là của các tổ chức, ngành, lĩnh vực, sản phẩm hoặc quốc gia và bao gồm tất cả các nhân tố ảnh hưởng tới nó như hiệu quả thị trường, như các chính sách, cơ cấu thị trường và nghiệp vụ kinh doanh về thương mại, đầu tư và các quy định… M. Porter, người trong Hội đồng về năng lực cạnh tranh các ngành ở Hoa Kỳ cho rằng chưa có định nghĩa thống nhất nào về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, Hội đồng về năng lực cạnh tranh của Hoa Kỳ cũng đề nghị một định nghĩa năng lực cạnh tranh như sau: “Năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hoá và dịch vụ của nền sản xuất của một nước có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới trong khi sức sống của dân chúng nước ấy có thể được nâng cao một cách vững chắc, lâu dài”1. Định nghĩa này tuy lột tả được được tính cạnh tranh nhưng lại bị bó hẹp về năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, chưa nhấn mạnh đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành.
1 The First Report to the President and Congress, 1992, Requested by Mr. Fred Bergsten, Chairman of the Competitiveness Policy Council in the US House of Representatives, 15 March 1995. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương Theo Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại, năng lực cạnh tranh là “Năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về năng lực kinh tế”2.
Định nghĩa này đã bao quát được năng lực cạnh tranh của các cấp độ nhưng diễn tả đầy đủ cụm từ “cạnh tranh” chưa rõ ràng. Một định nghĩa tương tự trong Từ điển thuật ngữ kinh tế học thì năng lực cạnh tranh là: “Khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”3. Giống như định nghĩa của Hội đồng về năng lực cạnh tranh Hoa Kỳ định nghĩa này không nêu rõ được chủ thể cạnh tranh. Nhưng định nghĩa này diễn tả rất tốt về cạnh tranh.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) (The OECD High Level Forum on Industrial Competitiveness) đã lựa chọn một định nghĩa cố gắng kết hợp cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Như vậy, mỗi một định nghĩa đều có mặt ưu điểm và nhược điểm riêng, nhưng định nghĩa của OECD là hoàn thiện nhất khi nêu được chủ thể cạnh tranh và cụm từ cạnh tranh. Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm của OECD trong phân tích. Tuy nhiên, tác giả muốn bổ xung khái niệm này dựa vào các định nghĩa trên như sau: 2 Goode, W., Dictionary of Trade Policy, Center for International Economics Studies, University of Adelaide, 1997.
3 Từ điển thuật ngữ kinh tế học, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2001, tr. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương “Năng lực cạnh tranh là khả năng một doanh nghiệp, một ngành hay một quốc gia có khả năng giành được thị phần trước các đối thủ cạnh tranh để tạo ra thu nhập và việc làm cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” 1. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh có thể được chia ra thành ba cấp độ: Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/ doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá Việc phân chia cấp độ năng lực cạnh tranh như trên chỉ có tính tương đối.
Mỗi một cấp độ đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ví dụ, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng đều sản xuất hoặc kinh doanh một loại hàng hóa dịch vụ nhất định. Chỉ khi hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp có sức cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có sức cạnh tranh trên thị trường. Một ví dụ khác, ngành Dệt may Việt Nam có sức cạnh tranh, có thị phần lớn trên thị trường thế giới cũng có thể nói Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới,… Do vậy, cần phải nghiên cứu năng lực cạnh tranh trên mối quan hệ giữa các cấp độ.
Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia Uỷ ban phụ trách về năng lực cạnh tranh của các ngành ở Hoa Kỳ (The U. President's Commission on Industrial Competitiveness) đưa ra định nghĩa về năng lực cạnh tranh của một quốc gia như sau: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng mà quốc gia đó – trong điều kiện thị trường tự do và công bằng – có thể sản xuất hàng hoá dịch vụ đạt tiêu chuẩn của thị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương trường quốc tế, đồng thời vẫn duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước mình” 4. Theo báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu (The Global Competitiveness Report) của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997 thì “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng mà quốc gia đó duy trì và đạt được những tiến bộ trong việc cải thiện mức sống, được phản ánh bằng mức tăng GDP trên đầu người”5.
Tóm lại, năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng xâm nhập hàng hóa của một quốc gia trên thị trường quốc tế và đạt được những mục tiêu vĩ mô của quốc gia đó như tăng trưởng GDP, thu nhập và mức sống của người dân. Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/ doanh nghiệp Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) (The OECD High Level Forum on Industrial Competitiveness) đã định nghĩa về khái niệm năng lực cạnh tranh của ngành như sau: “Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”6. Tuy là định nghĩa của cấp ngành nhưng OECD đã gắn với điều kiện cạnh tranh quốc tế. Định nghĩa này rất hợp lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Năng lực cạnh tranh cấp ngành là tổng hợp năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong một ngành và mối quan hệ giữa chúng. Nói chung, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp hoặc của một ngành tuỳ thuộc vào khả năng sản xuất hàng hoá, dịch vụ, chất lượng, mức giá bằng hoặc thấp hơn mức giá phổ biến trên thị trường mà không cần đến trợ giá. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá 4 Prepared jointly by UNIDO and DSI - Development Strategy Institute - Ministry of Planning and Investment, Vietnam industrial competitiveness review , 1999, p. 5 Global Competitiveness report, 1997.
6 OECD, Competitive Policy: A New Agenda LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương Năng lực cạnh tranh sản phẩm là khả năng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì. hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hoá cùng loại. Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá yếu khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp. Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm, không những doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, doanh nghiệp còn phải có chiến lược quảng bá, phát triển thị trường sản phẩm, tổ chức tiêu thụ sản phẩm… 1. Các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh 1.