Tổng quan nghiên cứu

Ngành dệt may giữ vai trò là ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Bước sang năm 2007, sau một năm chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam đã thiết lập mức kỷ lục 7,78 tỷ USD, đạt mức tăng trưởng ấn tượng 34,5% so với năm 2006, vượt 280 triệu USD so với kế hoạch đề ra. Với quy mô này, ngành dệt may chiếm 16% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc (48 tỷ USD), đóng góp 11,8% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP đạt 65,9 tỷ USD) và lần đầu tiên đưa Việt Nam lọt vào nhóm 10 quốc gia xuất khẩu hàng may mặc hàng đầu thế giới.

Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh quốc tế của ngành đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn mang tính cấu trúc. Tình trạng gia công đơn thuần (CMT) vẫn chiếm đa số, năng lực của hệ thống công nghiệp phụ trợ còn rất sơ khai và thị trường lao động đối mặt với nhiều biến động phức tạp. Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào chi phí nhân công thấp sang nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng và củng cố vị thế chuỗi cung ứng toàn cầu.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng năng lực cạnh tranh của dệt may xuất khẩu Việt Nam trên thị trường quốc tế, phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong điều kiện hội nhập. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung vào năng lực xuất khẩu sang các thị trường trọng điểm gồm Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu trải dài từ năm 2000 đến năm 2007, đồng thời định hướng chiến lược đến năm 2015 và tầm nhìn 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc hỗ trợ ngành hiện thực hóa mục tiêu nâng kim ngạch xuất khẩu lên 25 tỷ USD vào năm 2020 và nâng tỷ lệ nội địa hóa từ mức gần 40% năm 2006 lên mức trên 55%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết năng lực cạnh tranh của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), tiếp cận theo hướng khả năng của một ngành trong việc tạo ra thu nhập và việc làm bền vững trước áp lực cạnh tranh quốc tế mà không cần trợ giá. Khung phân tích trọng tâm vận dụng Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia thông qua Mô hình Kim cương của Michael Porter, được hiệu chỉnh khoa học nhằm phù hợp với đặc thù ngành dệt may Việt Nam. Mô hình điều chỉnh tích hợp 4 trụ cột cơ bản:

  1. Năng lực sản xuất nội tại (quy mô vốn, công nghệ sản xuất, nguồn nhân lực và khả năng tự chủ nguyên phụ liệu).
  2. Thị trường tiêu thụ và đối thủ cạnh tranh quốc tế (phân khúc thị trường mục tiêu và áp lực từ các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ).
  3. Hệ thống các ngành công nghiệp hỗ trợ (cung ứng bông, xơ sợi, vải, hóa chất nhuộm và phụ liệu).
  4. Môi trường cơ chế, chính sách thể chế (chính sách phát triển công nghiệp của Nhà nước, cam kết mở cửa thị trường và các rào cản kỹ thuật).

Song song đó, nghiên cứu sử dụng Ma trận SWOT (Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức) để thiết lập 4 nhóm chiến lược phối hợp: Chiến lược SO khai thác thế mạnh để nắm bắt cơ hội hội nhập; Chiến lược WO khắc phục yếu kém về nguyên phụ liệu; Chiến lược ST ứng phó rào cản thương mại; và Chiến lược WT giảm thiểu rủi ro biến động nhân sự và chi phí đầu vào. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa gồm: Năng lực cạnh tranh cấp ngành, Tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa (tăng từ 30% năm 2003 lên gần 40% năm 2006) và Quy tắc xuất xứ hàng hóa hai công đoạn trong các hiệp định thương mại.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp của luận văn được trích xuất từ cơ sở dữ liệu chính thống của Tổng cục Thống kê, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), Bộ Công Thương và các báo cáo kinh tế quốc tế giai đoạn 2000 - 2007.

  • Cỡ mẫu nghiên cứu: Bao quát toàn bộ 2.390 doanh nghiệp dệt may tham gia xuất khẩu trên cả nước tính đến năm 2007, kết hợp phân tích sâu nhóm 193 doanh nghiệp quy mô kim ngạch xuất khẩu từ 10 triệu USD trở lên và 534 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký 3,215 tỷ USD.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng dữ liệu theo 23 thị trường xuất khẩu lớn nhất (chiếm trên 95% kim ngạch toàn ngành, trong đó Hoa Kỳ chiếm 57,39%, EU chiếm 19,14%, Nhật Bản chiếm 9,05%) và theo các chủng loại sản phẩm chủ lực.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp phân tích thống kê mô tả, phân tích tổng hợp - so sánh chuỗi thời gian và phương pháp nghiên cứu tình huống đối chuẩn quốc tế (benchmarking) từ Trung Quốc và Ấn Độ. Việc lựa chọn phương pháp này giúp phản ánh chính xác trạng thái động của năng lực cạnh tranh ngành qua từng mốc mở cửa thị trường (ký kết BTA năm 2001, dỡ bỏ hạn ngạch EU năm 2005 và gia nhập WTO năm 2007), loại bỏ các sai số đột biến ngắn hạn và cung cấp luận cứ định lượng vững chắc cho việc hoạch định chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích chuỗi số liệu từ năm 2000 đến năm 2007 mang lại ba phát hiện mang tính then chốt về diện mạo ngành dệt may Việt Nam:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu duy trì ở mức rất cao nhưng phân bố thị trường thiếu cân bằng. Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành tăng hơn 4,1 lần, từ 1,892 tỷ USD năm 2000 lên 7,78 tỷ USD năm 2007, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 20% đến 34,5% mỗi năm. Tuy nhiên, mức độ phụ thuộc vào thị trường Hoa Kỳ là rất lớn: kim ngạch xuất sang Hoa Kỳ tăng vọt từ 49,5 triệu USD (chiếm 2,62% tổng kim ngạch) năm 2000 lên 4,464 tỷ USD (chiếm tới 57,39% tổng kim ngạch) vào năm 2007. Trong khi đó, tỷ trọng thị trường Nhật Bản có xu hướng giảm nhẹ từ 10,76% năm 2006 xuống 9,05% năm 2007 do rào cản quy tắc xuất xứ ngặt nghèo.

Thứ hai, mức độ phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu ở mức báo động, làm giảm biên lợi nhuận thực tế. Ngành dệt may phải nhập khẩu từ 70% đến 80% nguyên phụ liệu phục vụ may xuất khẩu. Trong năm 2005, tỷ lệ nhập khẩu bông nguyên liệu lên tới 93% (nhập 136 nghìn tấn trên tổng nhu cầu 146,4 nghìn tấn), xơ sợi hóa học phụ thuộc 100% vào nguồn nhập khẩu (126 nghìn tấn), sợi dệt nhập khẩu 47,5% và khóa kéo nhập khẩu 70%. Đến năm 2007, kim ngạch nhập khẩu vải đã lên tới 3,98 tỷ USD (tăng 33,6% so với năm 2006), nhập khẩu sợi đạt 744 triệu USD (tăng 36,8% về trị giá) và bông đạt 268 triệu USD. Đáng lưu ý, các nguồn nhập khẩu chính lại xuất phát từ chính các đối thủ cạnh tranh trực tiếp như Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ.

Thứ ba, quy mô doanh nghiệp manh mún và cơ cấu mặt hàng tập trung ở phân khúc giá trị gia tăng thấp. Trong tổng số 2.390 doanh nghiệp năm 2007, khối doanh nghiệp tư nhân và cổ phần chiếm 74,5%, FDI chiếm 25%, trong khi doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm 0,5%. Hơn 70% doanh nghiệp trong ngành có quy mô nhỏ dưới 300 lao động, chỉ có 6% doanh nghiệp có quy mô trên 1.000 lao động. Về chủng loại sản phẩm, cơ cấu xuất khẩu tập trung chủ yếu vào 3 nhóm hàng cơ bản là áo thun (đạt 1,12 tỷ USD năm 2007), quần dài và áo khoác, chiếm tổng cộng hơn 51,5% toàn ngành, trong khi tỷ lệ các sản phẩm thời trang cao cấp hoặc sản phẩm tự thiết kế thương hiệu (OBM) vẫn ở mức dưới 5%.

Thảo luận kết quả

Diễn biến năng lực cạnh tranh của ngành được thể hiện trực quan qua các hệ thống biểu đồ và bảng số liệu phân tích:

Biểu đồ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 1998 - 2007 và biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu phản ánh rõ nét hai bước ngoặt thể chế: Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) năm 2001 tạo cú hích tăng trưởng kim ngạch sang Mỹ gấp 20 lần trong năm 2002 (đạt 850 triệu USD), và việc gia nhập WTO năm 2007 giúp dỡ bỏ hoàn toàn chế độ hạn ngạch dệt may, thúc đẩy mức tăng kỷ lục 34,5%.

Bảng ma trận đối chuẩn quốc tế cho thấy sự chênh lệch lớn về năng lực cạnh tranh giữa Việt Nam và các cường quốc trong khu vực. Trung Quốc đạt giá trị xuất khẩu dệt may 143,99 tỷ USD vào năm 2006 (tăng 25,2%), sở hữu mạng lưới liên kết bao tiêu sản phẩm với 100 triệu nông dân trồng bông và đầu tư hơn 21 tỷ USD trong giai đoạn 2001 - 2004 để hiện đại hóa 3.500 nhà máy. Trong khi đó, Ấn Độ kiểm soát sản lượng 4 triệu tấn sợi và nâng công suất sợi polyester lên 2 triệu tấn.

Nguyên nhân cốt lõi khiến năng lực cạnh tranh của Việt Nam chậm bứt phá xuất phát từ tính liên kết lỏng lẻo trong chuỗi cung ứng nội địa. Phần lớn doanh nghiệp lựa chọn phương thức gia công cắt may (CMT) an toàn, dẫn đến tình trạng thiếu vốn đầu tư vào công đoạn dệt nhuộm hoàn tất – khâu thâm dụng vốn và đòi hỏi công nghệ xử lý môi trường phức tạp. Khi các hiệp định thương mại tự do đòi hỏi quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi hoặc tiêu chí xuất xứ hai công đoạn, việc phụ thuộc vào nguyên liệu ngoại nhập trở thành rào cản kỹ thuật trực tiếp làm xói mòn lợi thế cạnh tranh về giá nhân công rẻ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phân tích thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao toàn diện năng lực cạnh tranh ngành dệt may:

Thứ nhất, quy hoạch và đẩy mạnh đầu tư phát triển nguồn nguyên phụ liệu nội địa. Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) phối hợp cùng các bộ, ngành triển khai dự án sản xuất xơ polyester công suất lớn với tổng mức đầu tư trên 2.000 tỷ đồng tại Khu công nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng) và các nhà máy vệ tinh tại Đồng Nai, Bình Dương. Target metric: Nâng tỷ lệ nội địa hóa toàn ngành từ 40% lên 50 - 55% vào năm 2010, nâng khả năng tự chủ nguồn xơ sợi tổng hợp lên 15 - 20% vào năm 2009 và đạt 50% vào năm 2012; mở rộng diện tích vùng trồng bông chuyên canh lên 45.000 ha. Timeline thực hiện: 2008 - 2012. Chủ thể thực hiện: Vinatex, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Thứ hai, chuyển dịch phương thức sản xuất từ gia công sang FOB, ODM và OBM. Doanh nghiệp cần chủ động nguồn nguyên liệu để chuyển từ may gia công đơn thuần (CMT) sang phương thức mua nguyên liệu bán thành phẩm (FOB), tự thiết kế mẫu mã (ODM) và xây dựng thương hiệu riêng (OBM). Target metric: Giảm tỷ trọng gia công CMT xuống dưới 50%, nâng tỷ trọng sản xuất FOB/ODM lên 40 - 50% và đưa kim ngạch xuất khẩu mang thương hiệu Việt đạt tối thiểu 10% tổng kim ngạch toàn ngành vào năm 2015. Timeline thực hiện: 2008 - 2015. Chủ thể thực hiện: Các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu quy mô lớn (Việt Tiến, Nhà Bè, May 10, Hanosimex).

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật, thiết kế. Xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) chuyên ngành, mở rộng hệ sinh thái các viện thiết kế thời trang đạt chuẩn quốc tế. Target metric: Tăng thời lượng đào tạo trung bình cho công nhân kỹ thuật lên 50 - 70 giờ/năm (tiệm cận tiêu chuẩn 70 giờ/năm của Trung Quốc); đào tạo mới 15.000 cử nhân thiết kế thời trang và kỹ sư công nghệ dệt may chất lượng cao trước năm 2015. Timeline thực hiện: 2008 - 2015. Chủ thể thực hiện: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp Hiệp hội Dệt may Việt Nam và các trường đại học chuyên ngành.

Thứ tư, tái cơ cấu thị trường và nâng cao năng lực xúc tiến thương mại quốc tế. Chủ động khai thác sâu các thị trường có tốc độ tăng trưởng đột phá nhưng chưa được chú trọng đúng mức như Thổ Nhĩ Kỳ (tăng trưởng 563% năm 2007), Nam Phi (tăng 294%), Canada (tăng 39,2%) và Nga (tăng 26,5%), nhằm giảm áp lực rủi ro khi thị trường Mỹ chiếm trên 57% kim ngạch. Target metric: Nâng tỷ trọng kim ngạch tại các thị trường phi truyền thống lên mức 15 - 20% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành vào năm 2015; thiết lập 5 trung tâm xúc tiến thương mại dệt may Việt Nam tại các thị trường trọng điểm. Timeline thực hiện: 2008 - 2020. Chủ thể thực hiện: Bộ Công Thương, Cục Xúc tiến Thương mại và hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát, điều chỉnh các định hướng phát triển ngành dệt may theo Quyết định 36/2008/QĐ-TTg, xây dựng các gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ công nghiệp phụ trợ dệt nhuộm và đàm phán quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương.
  2. Lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp dệt may xuất khẩu: Hỗ trợ đánh giá chính xác vị thế cạnh tranh thông qua khung phân tích SWOT, từ đó xây dựng lộ trình chuyển đổi từ mô hình gia công chi phí thấp sang mô hình FOB/ODM, tái cấu trúc chuỗi cung ứng vật tư và tối ưu hóa chi phí sản xuất.
  3. Các tổ chức xúc tiến thương mại và hiệp hội ngành hàng (VITAS, VCCI): Khai thác dữ liệu phân tích thị phần và rào cản kỹ thuật tại 23 quốc gia đối tác nhằm thiết kế các chương trình xúc tiến thị trường ngách, cảnh báo sớm các biện pháp phòng vệ thương mại và tổ chức liên kết chuỗi giá trị giữa các doanh nghiệp trong ngành.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh, Thương mại: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận ứng dụng Mô hình Kim cương Porter trong phân tích cấp độ ngành công nghiệp tại các nền kinh tế đang phát triển.

Câu hỏi thường gặp

1. Đâu là rào cản lớn nhất đối với năng lực cạnh tranh của dệt may Việt Nam khi gia nhập WTO?
Rào cản lớn nhất là mức độ tự chủ nguyên phụ liệu quá thấp, khi ngành phải nhập khẩu tới 70% đến 80% nguyên liệu sản xuất. Thực trạng nhập khẩu 93% bông và 100% xơ sợi tổng hợp khiến doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn cung của đối thủ cạnh tranh, làm giảm biên lợi nhuận và gặp khó khăn trong việc đáp ứng quy tắc xuất xứ hai công đoạn để hưởng thuế suất ưu đãi 0%.

2. Tại sao dệt may Việt Nam tăng trưởng vượt bậc sang thị trường Hoa Kỳ giai đoạn 2001 - 2007?
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc ký kết Hiệp định Thương mại BTA năm 2001, mở đường cho kim ngạch vào Hoa Kỳ năm 2002 tăng gấp 20 lần (đạt 850 triệu USD). Đến năm 2007, việc Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn hạn ngạch theo cam kết WTO đã thúc đẩy kim ngạch đạt mức 4,464 tỷ USD, chiếm tỷ trọng áp đảo 57,39% tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành.

3. Cơ cấu quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng như thế nào đến sức cạnh tranh toàn ngành?
Ngành có tới hơn 70% số lượng là doanh nghiệp quy mô nhỏ dưới 300 lao động và chỉ 6% doanh nghiệp có trên 1.000 lao động. Sự phân tán này dẫn đến tình trạng thiếu vốn đầu tư công nghệ hiện đại, năng lực tự đào tạo tay nghề hạn chế và xảy ra hiện tượng cạnh tranh gay gắt về giá nhân công giữa các doanh nghiệp nội bộ nhằm thu hút lao động.

4. Vì sao các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may khó xây dựng thương hiệu riêng trên trường quốc tế?
Hơn 95% doanh nghiệp dệt may xuất khẩu dưới nhãn hiệu của nhà đặt hàng nước ngoài do hạn chế về năng lực tài chính, thiếu hụt đội ngũ thiết kế mẫu mã chuyên nghiệp và chưa thiết lập được mạng lưới phân phối trực tiếp tại các thị trường tiêu thụ lớn như Mỹ hay EU, ngoại trừ một số ít thương hiệu tiên phong tại thị trường nội địa.

5. Mô hình Kim cương của Michael Porter trong nghiên cứu này có điểm gì cải tiến?
Luận văn đã tinh chỉnh mô hình gốc bằng cách tích hợp trực tiếp yếu tố "Năng lực sản xuất nội tại" (gồm nguyên phụ liệu, nhân lực, công nghệ và quy mô) thành trụ cột bên trong cốt lõi, đồng thời lồng ghép tác động của thể chế chính sách mở cửa, giúp mô hình phản ánh sát thực tế năng lực cạnh tranh xuất khẩu của một quốc gia đang phát triển.

Kết luận

  1. Ngành dệt may khẳng định vị thế trụ cột xuất khẩu số một của Việt Nam năm 2007 với kim ngạch 7,78 tỷ USD, đóng góp 11,8% GDP và đưa đất nước vào top 10 cường quốc may mặc toàn cầu.
  2. Tồn tại điểm nghẽn nội tại nghiêm trọng khi tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt gần 40%, nhập khẩu nguyên liệu chiếm 70 - 80% và kim ngạch phụ thuộc quá lớn vào thị trường Hoa Kỳ (chiếm 57,39%).
  3. Mô hình cạnh tranh dựa trên giá nhân công rẻ đang dần mất đi lợi thế trước áp lực tăng chi phí và sự vươn lên mạnh mẽ của các quốc gia như Trung Quốc hay Ấn Độ.
  4. Động lực phát triển giai đoạn tiếp theo đòi hỏi ngành phải tập trung nguồn lực đầu tư cụm công nghiệp phụ trợ xơ - sợi - dệt - nhuộm trị giá trên 2.000 tỷ đồng và mở rộng 45.000 ha vùng nguyên liệu.
  5. Chuyển đổi mô hình sản xuất từ gia công đơn thuần CMT sang FOB, ODM và OBM là con đường duy nhất để gia tăng giá trị thặng dư và phát triển thương hiệu bền vững.

Đóng góp khoa học chính của luận văn là hệ thống hóa khung phân tích năng lực cạnh tranh cấp ngành trong điều kiện hội nhập WTO và định lượng hóa các điểm nghẽn chuỗi cung ứng thông qua bộ dữ liệu thực chứng 2000 - 2007. Lộ trình triển khai tiếp theo cần bám sát mục tiêu của Quyết định 36/2008/QĐ-TTg: giai đoạn 2008 - 2010 đạt doanh thu toàn ngành 14,8 tỷ USD và giai đoạn 2011 - 2020 vươn tới mốc xuất khẩu 25 tỷ USD.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp quan tâm đến việc hoàn thiện chiến lược chuỗi cung ứng dệt may có thể tiếp tục mở rộng đề tài bằng cách phân tích chuyên sâu tác động của các hiệp định tự do thương mại thế hệ mới đối với cấu trúc chi phí và tiêu chuẩn xuất xứ hàng hóa.