Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh. Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam theo các tiêu chí lựa chọn giai đoạn 2003-2009. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thời gian tới. 11 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.
KHÁI NIỆM VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái niệm về cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy vậy, nói một cách khái quát, cạnh tranh là sự ganh đua giữa một nhóm người hoặc tổ chức, doanh nghiệp với nhau nhằm nâng cao vị thế của mình và làm giảm vị thế của các đối thủ. Trong kinh tế, khái niệm cạnh tranh được hiểu và định nghĩa khác nhau, nhưng tựu chung lại, có thể nêu ra một cách tổng quát về các đặc trưng cơ bản của cạnh tranh trong kinh doanh, đó là: + Cạnh tranh mang bản chất của mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau.
Nói đến cạnh tranh là phải nói đến chủ thể tham gia cạnh tranh, và các chủ thể này phải mang cùng một mục tiêu thì mới có cạnh tranh. + Các chủ thể cạnh tranh phải tuân thủ các quy định của pháp luật. + Các phương pháp cạnh tranh rất đa dạng: thông qua giá cả, mẫu mã, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tính độc đáo và sự khác biệt… Thực chất của cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa - dịch vụ (mua và bán), hay những sự khác biệt và độc đáo về chất lượng, và đó là con đường, phương thức để giành lấy lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. + Cạnh tranh diễn ra trong khoảng thời gian và không gian không cố định.
Cạnh tranh là cuộc chạy đua khốc liệt mà doanh nghiệp muốn tồn tại thì không được lẩn tránh, phải trực tiếp đối đầu với thử thách, tìm ra những giải pháp để giành thắng lợi trong cuộc chiến đó. Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận thức về vấn đề cạnh tranh là không giống nhau, ở phạm vi và các cấp độ áp dụng khác nhau. Tuy nhiên, xét theo quan điểm tổng hợp: “Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng, đảm bảo các điều kiện sản xuất, thị trường và tiêu thụ có lợi nhất nhằm nâng cao vị thế của mình. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích: đối với người kinh doanh là lợi nhuận, còn đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng”.
[13] 12 * Lợi thế so sánh: Năm 1817, nhà kinh tế học người Anh David Ricardo (1772-1823) đã nghiên cứu và đưa ra Lý thuyết về lợi thế so sánh. Trong nội dung của Lý thuyết lợi thế so sánh, Ricardo tập trung phân tích chi phí so sánh để sản xuất một loại hàng hóa giữa các quốc gia với nhau và tìm hiểu bằng cách nào để một quốc gia thu lợi được từ thương mại khi chi phí thấp hơn tương đối. Lý thuyết này xác định những lợi thế đạt được trong thương mại bằng cách chứng minh rằng: Trong thương mại quốc tế, khi các quốc gia tập trung chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi những mặt hàng có bất lợi nhỏ nhất hoặc những mặt hàng có lợi lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi, trong đó mỗi nước có những lợi thế so sánh riêng của mình về nguồn nhân công dồi dào giá rẻ, hay về tài nguyên thiên nhiên phong phú, về vốn hay công nghệ… Lợi thế so sánh là một nguyên tắc trong kinh tế học và là một khái niệm trọng yếu trong nghiên cứu thương mại quốc tế, được nêu như sau: “Mỗi quốc gia sẽ được lợi khi chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (hay tương đối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được lợi nếu nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác)” [13]. Nguyên tắc lợi thế so sánh cho rằng, một nước có thể thu được lợi từ thương mại bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước khác trong việc sản xuất mọi hàng hóa.
Như vậy, nếu tất cả các quốc gia đều chuyên môn hóa vào các lĩnh vực họ có lợi thế so sánh và cùng tham gia vào thương mại quốc tế thì mức phúc lợi toàn cầu sẽ tăng lên đáng kể. Nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel năm 1970 Paul Samuelson đã viết: "Mặc dù có những hạn chế, lý thuyết lợi thế so sánh vẫn là một trong những chân lý sâu sắc nhất của mọi môn kinh tế học. Các quốc gia không quan tâm đến lợi thế so sánh đều phải trả một cái giá rất đắt bằng mức sống và tăng trưởng kinh tế của chính mình." Về mặt định tính, người ta chia thành hai khái niệm, đó là: lợi thế so sánh tĩnh và lợi thế so sánh động. + Lợi thế so sánh tĩnh (Static Advantage): Là lợi thế đang có hay những lợi thế có được mà không cần phải đầu tư lớn về vốn và tri thức.
Nếu sử dụng thuật ngữ của M.Porter thì đây là những lợi thế “trời cho”, lợi thế “cấp thấp”, như các lợi thế về vị trí địa lý, khí hậu, nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động dồi dào. Những lợi thế này thường không vững chắc mà chỉ mang tính ngắn hạn và trung hạn; nếu các điều kiện sản 13 xuất hiện có không được cải tạo liên tục và phát triển ở mức độ cao hơn thì có thể lợi thế cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp sẽ giảm xuống. Với lợi thế so sánh tĩnh, có ngành đã phát huy được và cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế, nhưng cũng có ngành chưa phát huy được do môi trường hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành còn nhiều hạn chế. + Lợi thế so sánh động (Dynamic Advantage): Là lợi thế “cấp cao”, lợi thế phải có sự đầu tư lớn về vốn và tri thức mới có được (như đầu tư vào lao động với trình độ kỹ thuật và tri thức khoa học cao, cơ sở hạ tầng kinh tế hiện đại, công nghệ, trang thiết bị tiên tiến.
Đây là lợi thế tiềm năng sẽ xuất hiện trong tương lai gần hay xa khi các điều kiện về công nghệ, về nguồn nhân lực và khả năng tích luỹ tư bản cho phép. Nếu có chính sách tích cực theo hướng tạo ra nhanh các điều kiện đó sẽ làm cho lợi thế so sánh động sớm chuyển thành sức cạnh tranh hiện thực. Muốn có lợi thế này, ngoài yếu tố khách quan thuộc về môi trường quốc tế, bên cạnh việc tận dụng triệt để các nguồn lực tự nhiên và sử dụng chúng có hiệu quả, quốc gia/doanh nghiệp cần phải đầu tư không ngừng cho quá trình tiếp cận cái mới, cải thiện môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư trong nước., tạo ra lợi thế tiềm năng làm cơ sở cho sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp. Lợi thế so sánh động quyết định đến chỉ số RCA.
Hàng hóa được sản xuất dựa vào lợi thế so sánh tĩnh sẽ không có lợi thế cạnh tranh bằng hàng hóa được sản xuất dựa vào lợi thế so sánh động trên cùng một thị trường, mặc dù giá cả của “hàng hóa cấp thấp” có thể thấp hơn rất nhiều so với giá cả của hàng hóa cùng loại được sản xuất dựa vào điều kiện “cấp cao”. * Lợi thế cạnh tranh: Lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để trở nên “nổi bật giữa đám đông”, từ đó “nắm bắt cơ hội” để kinh doanh có lãi. Lợi thế cạnh tranh chính là lợi thế mà một quốc gia, doanh nghiệp hay một sản phẩm đang có và có thể có so với các đối thủ cạnh tranh, bao gồm các lợi thế so sánh tĩnh (lợi thế sẵn có) và các lợi thế so sánh động (lợi thế tiềm năng) thông qua quá trình tích lũy vốn, đầu tư công nghệ, lao động trình độ cao, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- kỹ thuật và cải thiện môi trường kinh doanh trong nước. Trong đó, lợi thế so sánh động quan trọng hơn lợi thế so sánh tĩnh và mang tính quyết định tới lợi thế cạnh tranh của một quốc gia, doanh nghiệp hay một sản phẩm.
[13, 14] 14 Theo quan điểm của Michael Porter, nếu doanh nghiệp chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược đó không đảm bảo sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp. Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là xây dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững, mà theo Michael Porter, đó là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được. Để tạo dựng lợi thế cạnh tranh trên thương trường, người ta thường dựa vào ba chiến lược, được gọi chung là “Chiến lược cạnh tranh phổ quát” (Generic strategies) và chúng có thể được áp dụng cho mọi ngành với quy mô lớn hay nhỏ, mọi sản phẩm và dịch vụ, đó là: [9, 13] Chiến lược chi phí thấp/Cost Leadership (trường hợp hãng hàng không giá rẻ): Chiến lược này được hiểu là duy trì mức chi phí thấp nhất trong ngành hoặc trên thị trường. Những doanh nghiệp theo đuổi chiến lược này cần có: - Vốn để đầu tư cho những công nghệ giúp tăng năng suất lao động và cắt giảm chi phí.
- Quy trình vận hành đạt hiệu quả cao. - Nền tảng nguồn lực để có chi phí thấp (nhân công, nguyên vật liệu, trang thiết bị…). - Năng lực quản lý sản xuất, vật tư, nguyên vật liệu nhằm tiết kiệm và giảm chi phí sản xuất. Rủi ro lớn nhất khi áp dụng chiến lược này là không phải chỉ có sản phẩm của doanh nghiệp bạn tiếp cận được các nguồn lực giá rẻ, mà các đối thủ cạnh tranh hoàn toàn có thể sao chép chiến lược của nhau.
Điều quan trọng là liệu doanh nghiệp bạn có khả năng duy trì chi phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thương trường hay không?