Tổng quan nghiên cứu

Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử và linh kiện của Việt Nam đạt 2.763,02 triệu USD, chiếm 4,84% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Con số này còn rất khiêm tốn khi đặt cạnh các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á như Indonesia với 15 tỷ USD, Thái Lan với 23 tỷ USD hay Philippines đạt tới 37 tỷ USD (chiếm 36,1% tổng kim ngạch xuất khẩu). Mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân trên 20% mỗi năm trong giai đoạn mở cửa, ngành công nghiệp điện tử Việt Nam vẫn đối mặt với thách thức lớn về chất lượng tăng trưởng và vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế.

Vấn đề cốt lõi mà nghiên cứu tập trung giải quyết là sự phụ thuộc quá mức vào các tập đoàn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), khi khu vực này nắm giữ từ 90% đến 95% tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành. Ngược lại, các doanh nghiệp nội địa chủ yếu thực hiện gia công, lắp ráp ở công đoạn cuối cùng với tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt từ 20% đến 30% và giá trị gia tăng thực tế thu về chỉ dao động trong khoảng 5% đến 10%.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh, đánh giá thực trạng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam thông qua hệ thống tiêu chí định lượng chuẩn xác và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao sức cạnh tranh trong giai đoạn hội nhập. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian tập trung vào giai đoạn 2003 - 2009 (thời điểm thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo Hiệp định thương mại tự do ASEAN và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO), cùng tầm nhìn định hướng đến năm 2020 nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng toàn ngành từ 20% đến 30% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của hai hệ thống lý thuyết kinh tế kinh điển:

Thứ nhất, Lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo, tập trung phân định giữa lợi thế so sánh tĩnh (dựa trên nguồn tài nguyên sẵn có, vị trí địa lý và chi phí nhân công giá rẻ) và lợi thế so sánh động (được tạo lập thông qua đầu tư vốn, phát triển công nghệ cao, cơ sở hạ tầng hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao).

Thứ hai, Lý thuyết Lợi thế cạnh tranh và Chiến lược cạnh tranh phổ quát của Michael Porter, chỉ ra ba hướng tiếp cận cốt lõi cho doanh nghiệp bao gồm: chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược tập trung hóa thị trường ngách.

Năng lực cạnh tranh trong nghiên cứu được phân tích đa chiều qua ba cấp độ liên kết hữu cơ:

  • Năng lực cạnh tranh quốc gia: Đo lường qua Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Tăng trưởng (GCI) và Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Kinh doanh (BCI) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF).
  • Năng lực cạnh tranh ngành và doanh nghiệp: Đánh giá qua nguồn lực hữu hình (nhân lực, vốn, thiết bị máy móc), nguồn lực vô hình (thương hiệu, bằng sáng chế, hoạt động R&D), năng lực quản trị chuỗi cung ứng và sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ.
  • Năng lực cạnh tranh sản phẩm: Xác định qua thị phần, chất lượng, giá thành và chỉ số giá trị gia tăng trên giá trị sản lượng (VA/GO).

Hệ thống công cụ định lượng áp dụng bao gồm: Hệ số Lợi thế so sánh hiển thị của Balassa (RCA1), Hệ số cán cân thương mại ngành của Trường Kinh doanh Copenhagen (RCA2), Chỉ số chuyên môn hóa thương mại Lafay Index (RCA3) và Mức độ bảo hộ hữu hiệu (ERP).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn khảo sát tập dữ liệu chuỗi thời gian 7 năm (giai đoạn 2003 - 2009) bao quát toàn bộ hơn 300 doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành công nghiệp điện tử tại Việt Nam (trong đó 1/3 là doanh nghiệp FDI và 2/3 là doanh nghiệp trong nước). Dữ liệu xuất nhập khẩu được thu thập tại hơn 50 thị trường quốc tế dựa trên hệ thống phân loại hải quan tiêu chuẩn HS và SITC nhóm 75 (thiết bị văn phòng), SITC 76 (thiết bị viễn thông) và SITC 77 (linh kiện điện tử, mạch tích hợp).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp thống kê toàn bộ (purposive and comprehensive census) được áp dụng để bao quát 100% dữ liệu hải quan chính ngạch từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) và Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF).

Phương pháp phân tích kết hợp giữa thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh đối chứng quốc tế và phương pháp chuyên gia. Việc lựa chọn các chỉ số RCA, Lafay Index và ERP làm phương pháp phân tích chủ đạo vì các công cụ này cho phép bóc tách chính xác lợi thế nội tại của từng nhóm mặt hàng, loại bỏ các tác động can thiệp bảo hộ thuế quan và lượng hóa chính xác vị thế thực tế của sản phẩm điện tử Việt Nam trên chuỗi giá trị toàn cầu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô xuất khẩu tăng trưởng ấn tượng nhưng tỷ trọng trong tổng thương mại còn rất thấp và phụ thuộc lớn vào khối ngoại. Kim ngạch xuất khẩu ngành điện tử tăng từ 672,3 triệu USD năm 2003 lên 2.763,02 triệu USD năm 2009 và đạt 3.590,17 triệu USD năm 2010. Dẫu vậy, nhóm hàng này chỉ chiếm khoảng 4,84% đến 4,97% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia. Khối FDI đóng góp từ 90% đến 95% tổng giá trị xuất khẩu (năm 2004 hai doanh nghiệp Fujitsu và Orion-Hanel chiếm tới 95%), trong khi các doanh nghiệp nội địa chỉ đóng góp chưa đầy 100 triệu USD vào năm 2009.

Thứ hai, cơ cấu ngành mất cân đối nghiêm trọng và giá trị gia tăng nội địa thấp. Sản xuất trong nước có tới 80% là hàng điện tử tiêu dùng gia dụng lắp ráp đơn giản và chỉ có 20% là thiết bị điện tử chuyên dụng. Tỷ lệ nội địa hóa bình quân chỉ đạt từ 20% đến 30%, trong khi hàm lượng lao động và giá trị gia tăng của Việt Nam trong mỗi sản phẩm xuất xưởng chỉ chiếm từ 5% đến 10%.

Thứ ba, tình trạng nhập siêu kéo dài và sự yếu kém của công nghiệp hỗ trợ. Năm 2008, ngành nhập siêu 1.083,8 triệu USD và đến năm 2009, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 3.953,9 triệu USD (chủ yếu từ Trung Quốc với 1.463,5 triệu USD, chiếm 37,01% và Nhật Bản với 839,3 triệu USD, chiếm 21,23%). Các doanh nghiệp FDI phải nhập khẩu tới 90% - 100% linh kiện; điển hình trong thực tế, khi tập đoàn Canon khảo sát 26 doanh nghiệp cơ khí hỗ trợ của Việt Nam để cung ứng linh kiện ốc vít đơn giản, không có doanh nghiệp nào đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật.

Thứ tư, thị phần quốc tế và chỉ số cạnh tranh chuyên môn hóa ở mức rất thấp. Tại thị trường Hoa Kỳ năm 2009, thị phần thiết bị văn phòng của Việt Nam chỉ chiếm 0,08% (Trung Quốc chiếm 39,5%, Malaysia chiếm 9,21%). Tại Nhật Bản, thị phần mặt hàng này của Việt Nam chỉ đạt 0,35% (Trung Quốc chiếm 38,9%). Chỉ số RCA2 của Việt Nam luôn mang giá trị âm qua các năm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trên bắt nguồn từ chính sách bảo hộ bằng hàng rào thuế quan kéo dài trước năm 2006. Mức thuế nhập khẩu linh kiện ngoài khu vực ASEAN từng bị duy trì ở mức cao từ 18% đến 29%, trong khi thuế nhập khẩu thành phẩm nguyên chiếc từ ASEAN giảm về 5%. Điều này đã triệt tiêu động lực nghiên cứu phát triển của các doanh nghiệp nội địa, biến họ thành các đơn vị gia công thuần túy.

Khi so sánh với bài học quốc tế, Trung Quốc đã thành công nhờ chiến lược lấy khoa học kỹ thuật thúc đẩy phát triển mậu dịch, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu điện tử đạt 1.217,8 tỷ USD năm 2007; còn Malaysia thu hút FDI gắn chặt với chuyển giao công nghệ và xây dựng cụm công nghiệp chuyên môn hóa. Trong khi đó, Việt Nam chủ yếu thu hút các dự án lắp ráp có hàm lượng công nghệ thấp nhằm tận dụng lao động giá rẻ.

Để tăng tính trực quan, các dữ liệu này có thể được biểu diễn qua biểu đồ đường thể hiện tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu giai đoạn 2003 - 2009, kết hợp biểu đồ cơ cấu thị phần xuất khẩu sang các thị trường trọng điểm (Hoa Kỳ chiếm 15,68%, Nhật Bản chiếm 13,79%, Thái Lan chiếm 10,43%) và bảng ma trận đối sánh chỉ số RCA giữa Việt Nam với các nước Đông Á nhằm phản ánh rõ nét khoảng cách công nghệ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nhóm giải pháp vĩ mô từ phía Nhà nước:

  • Hoàn thiện khung pháp lý và chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ: Bộ Công Thương và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần ban hành các chính sách ưu đãi miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 0% đến 10% trong 5 năm đầu cho các dự án sản xuất linh kiện đạt chuẩn, phấn đấu nâng tỷ lệ nội địa hóa toàn ngành lên mức 40% - 50% vào năm 2020.
  • Quy hoạch và thành lập các cụm công nghiệp điện tử tập trung: Triển khai xây dựng 3 cụm liên kết ngành tại các vùng kinh tế trọng điểm (Bắc Ninh, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh) giai đoạn 2011 - 2015, thu hút các dự án FDI công nghệ cao như Intel, Foxconn với điều kiện cam kết chuyển giao công nghệ cho tối thiểu 20% nhà cung ứng nội địa.
  • Đổi mới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các doanh nghiệp công nghệ xây dựng chương trình đào tạo kỹ sư vi mạch, thiết kế phần cứng, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật chuyên sâu lên 60% vào năm 2020.

Thứ hai, nhóm giải pháp vi mô đối với các doanh nghiệp:

  • Chuyển đổi mô hình sản xuất từ nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM) sang nhà sản xuất thiết kế gốc (ODM) và từng bước xây dựng nhãn hiệu riêng (OBM), tập trung vốn cho hoạt động R&D tối thiểu từ 3% đến 5% doanh thu hàng năm.
  • Thiết lập hệ thống quản lý chất lượng đạt chuẩn quốc tế (ISO 9001, ISO 14001, RoHS) nhằm đáp ứng yêu cầu khắt khe của các tập đoàn đa quốc gia và tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng linh kiện toàn cầu trước năm 2018.

Thứ ba, nhóm giải pháp đối với Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (VEIA):

  • Xây dựng cổng thông tin cơ sở dữ liệu số liên kết giữa các nhà cung cấp phụ trợ nội địa với các tập đoàn đa quốc gia, giảm thiểu thời gian tìm kiếm đối tác cung ứng xuống dưới 30 ngày.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà hoạch định chính sách công nghiệp và thương mại: Cán bộ thuộc Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý các khu công nghệ cao cần nghiên cứu dữ liệu thực chứng và đánh giá chính sách thuế quan để thiết kế các gói kích cầu công nghiệp hỗ trợ phù hợp với cam kết quốc tế.
  • Lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp điện tử: Giám đốc điều hành, trưởng bộ phận chiến lược tại các công ty sản xuất thiết bị, linh kiện có thể áp dụng mô hình phân tích chuỗi giá trị và các chiến lược cạnh tranh phổ quát để định vị lại phân khúc sản phẩm, tối ưu chi phí và tìm kiếm thị trường ngách.
  • Chuyên viên phân tích thị trường và nhà đầu tư: Các nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể sử dụng số liệu thống kê về dòng vốn FDI (Intel 1 tỷ USD, Foxconn, Samsung 650 triệu USD) và cán cân thương mại để nhận diện cơ hội đầu tư vào các phân ngành phụ trợ giàu tiềm năng.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên kinh tế: Người nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh có thể khai thác phương pháp luận đánh giá năng lực cạnh tranh, cách tính toán các chỉ số kinh tế lượng (RCA, Lafay, ERP) làm tài liệu tham khảo học thuật giá trị.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến tỷ lệ nội địa hóa của ngành điện tử Việt Nam chỉ đạt từ 20% đến 30% là gì? Nguyên nhân xuất phát từ sự yếu kém của mạng lưới công nghiệp hỗ trợ nội địa và chính sách thuế trong thời gian dài chưa tạo động lực liên kết. Trong thực tế, phần lớn doanh nghiệp trong nước thiếu vốn và công nghệ hiện đại, chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe về độ chính xác của các tập đoàn đa quốc gia như trường hợp khảo sát chuỗi cung ứng của Canon.

Tại sao kim ngạch xuất khẩu điện tử tăng trưởng trên 20% mỗi năm nhưng giá trị gia tăng thu về chỉ đạt khoảng 5% đến 10%? Do hơn 90% kim ngạch xuất khẩu thuộc về khối doanh nghiệp FDI hoạt động theo phương thức gia công lắp ráp thâm dụng lao động đơn giản. Việt Nam chủ yếu nhập khẩu tới 90% linh kiện từ nước ngoài, nguồn thu tạo ra chỉ dừng lại ở chi phí tiền lương nhân công thấp và tiền thuê đất, chưa tạo ra giá trị gia tăng từ công nghệ hay thiết kế.

Cam kết gia nhập WTO tác động như thế nào đến thuế nhập khẩu thiết bị điện tử? Theo cam kết WTO, mức thuế suất thuế nhập khẩu bình quân mặt hàng máy móc, thiết bị điện và điện tử của Việt Nam phải giảm từ 12,4% xuống còn 9,5% theo lộ trình từ 5 đến 7 năm. Các sản phẩm điện tử tiêu dùng như tivi, điều hòa cũng phải cắt giảm sâu thuế suất từ mức 50% xuống còn 25%.

Chỉ số RCA2 mang giá trị âm phản ánh thực trạng gì của ngành công nghiệp điện tử? Hệ số RCA2 phản ánh tỷ số giữa mức chênh lệch xuất nhập khẩu với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của ngành. Giá trị âm kéo dài qua các năm chứng minh Việt Nam là quốc gia nhập siêu lớn về sản phẩm công nghệ cao (năm 2008 nhập siêu 1.083,8 triệu USD), hoàn toàn chưa có lợi thế so sánh thực chất trên thị trường quốc tế.

Bài học kinh nghiệm quan trọng nhất từ Trung Quốc đối với ngành điện tử Việt Nam là gì? Đó là chiến lược lấy khoa học kỹ thuật thúc đẩy mậu dịch, chuyển đổi nhanh chóng từ lắp ráp OEM sang làm chủ công nghệ thiết kế và chế tạo. Trung Quốc đã chủ động đầu tư bài bản cho các cụm công nghiệp R&D tại Bắc Kinh, Thượng Hải và thực thi chính sách thu hút nhân tài khoa học công nghệ hồi hương để nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện thực trạng năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp điện tử Việt Nam giai đoạn 2003 - 2009, chỉ rõ sự phụ thuộc lớn vào khối FDI (chiếm 90% - 95% kim ngạch xuất khẩu).
  • Nghiên cứu đã làm rõ nghịch lý giữa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao (đạt 2.763,02 triệu USD năm 2009) với tình trạng nhập siêu lớn và giá trị gia tăng nội địa thấp (chỉ 5% - 10%).
  • Hệ thống hóa khung lý thuyết khoa học và vận dụng thành công các công cụ định lượng kinh tế thương mại chuyên sâu như RCA1, RCA2, Lafay Index và ERP.
  • Đúc rút những bài học kinh nghiệm quốc tế sâu sắc từ Trung Quốc, Malaysia và Hàn Quốc trong việc phát triển công nghiệp hỗ trợ và cụm công nghiệp chuyên ngành.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ ở cả cấp độ chính sách vĩ mô của Nhà nước và chiến lược vi mô của doanh nghiệp hướng tới mục tiêu tăng trưởng 20% - 30%/năm đến năm 2020.

Đóng góp chính của công trình là cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực chứng giúp các nhà hoạch định chính sách chuyển dịch mô hình phát triển ngành từ lợi thế so sánh tĩnh sang lợi thế so sánh động dựa trên tri thức và công nghệ.

Về lộ trình tiếp theo, giai đoạn 2011 - 2015 cần tập trung đột phá vào việc hoàn thiện thể chế công nghiệp hỗ trợ và liên kết chuỗi cung ứng FDI; giai đoạn 2016 - 2020 đẩy mạnh năng lực R&D để vươn lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.

Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp thực thi đồng bộ các khuyến nghị nêu trên để đưa công nghiệp điện tử thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.