Luận Văn Thạc Sĩ Về Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Ngân Hàng VPBank Trung Tâm SME Thăng Long

Luận văn thạc sĩ phân tích nâng cao năng lực cạnh tranh của VPBank tại trung tâm SME Thăng Long, góp phần phát triển ngân hàng TMCP Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Ngoại Thương

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

125
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Ngân Hàng VPBank SME Thăng Long

Nâng cao năng lực cạnh tranh là một yếu tố sống còn đối với sự phát triển bền vững của Ngân hàng VPBank, đặc biệt là Trung tâm SME Thăng Long. Trong bối cảnh thị trường ngân hàng Việt Nam ngày càng cạnh tranh, việc cải thiện năng lực cạnh tranh không chỉ giúp ngân hàng duy trì vị thế mà còn mở rộng thị phần. VPBank đã xác định rõ tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và thích ứng với những thay đổi trong môi trường kinh doanh.

1.1. Định Nghĩa Năng Lực Cạnh Tranh Trong Ngành Ngân Hàng

Năng lực cạnh tranh trong ngành ngân hàng được hiểu là khả năng của ngân hàng trong việc cung cấp dịch vụ tốt hơn so với đối thủ. Điều này bao gồm chất lượng dịch vụ, giá cả, và sự đổi mới trong sản phẩm. VPBank cần phải phát triển các chiến lược phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Năng Lực Cạnh Tranh Đối Với VPBank

Năng lực cạnh tranh không chỉ giúp VPBank thu hút khách hàng mà còn tạo ra lợi thế bền vững trong thị trường. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ giúp ngân hàng tối ưu hóa quy trình hoạt động và cải thiện hiệu quả kinh doanh.

II. Những Thách Thức Trong Việc Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Ngân Hàng VPBank

Trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh, VPBank phải đối mặt với nhiều thách thức. Các yếu tố như sự gia tăng cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và nhu cầu của khách hàng là những vấn đề cần được giải quyết. Đặc biệt, việc duy trì chất lượng dịch vụ trong bối cảnh áp lực cạnh tranh ngày càng lớn là một thách thức không nhỏ.

2.1. Cạnh Tranh Từ Các Ngân Hàng Nước Ngoài

Sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh mẽ đã tạo ra áp lực lớn cho VPBank. Các ngân hàng này thường có công nghệ tiên tiến và dịch vụ khách hàng tốt hơn, điều này khiến VPBank cần phải cải thiện nhanh chóng để không bị tụt lại phía sau.

2.2. Thay Đổi Nhu Cầu Khách Hàng

Khách hàng ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng dịch vụ và sản phẩm. VPBank cần phải nắm bắt kịp thời các xu hướng mới và điều chỉnh dịch vụ của mình để đáp ứng nhu cầu này.

III. Phương Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Ngân Hàng VPBank

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, VPBank cần áp dụng một số phương pháp chiến lược. Việc đầu tư vào công nghệ, cải thiện chất lượng dịch vụ và phát triển nguồn nhân lực là những yếu tố quan trọng. Ngoài ra, việc xây dựng thương hiệu mạnh mẽ cũng là một phần không thể thiếu trong chiến lược cạnh tranh.

3.1. Đầu Tư Vào Công Nghệ Mới

Công nghệ là yếu tố then chốt giúp VPBank nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc áp dụng công nghệ mới trong quản lý và cung cấp dịch vụ sẽ giúp ngân hàng cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường trải nghiệm khách hàng.

3.2. Cải Thiện Chất Lượng Dịch Vụ Khách Hàng

Chất lượng dịch vụ khách hàng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công của ngân hàng. VPBank cần tập trung vào việc đào tạo nhân viên và cải thiện quy trình phục vụ để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Tại VPBank

VPBank đã áp dụng nhiều giải pháp thực tiễn để nâng cao năng lực cạnh tranh. Những kết quả đạt được từ các chiến lược này không chỉ giúp ngân hàng tăng trưởng mà còn củng cố vị thế trên thị trường. Việc theo dõi và đánh giá hiệu quả của các giải pháp là rất quan trọng để điều chỉnh kịp thời.

4.1. Kết Quả Từ Việc Đầu Tư Công Nghệ

Việc đầu tư vào công nghệ đã giúp VPBank cải thiện quy trình làm việc và nâng cao trải nghiệm khách hàng. Các hệ thống tự động hóa đã giảm thiểu thời gian xử lý giao dịch, từ đó tăng cường sự hài lòng của khách hàng.

4.2. Tăng Trưởng Doanh Thu Từ Dịch Vụ Khách Hàng

Chất lượng dịch vụ khách hàng được cải thiện đã dẫn đến sự gia tăng doanh thu từ các sản phẩm dịch vụ. VPBank đã ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể trong doanh thu từ các dịch vụ ngân hàng bán lẻ.

V. Kết Luận Về Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Ngân Hàng VPBank

Nâng cao năng lực cạnh tranh là một quá trình liên tục và cần thiết đối với VPBank. Những thách thức trong môi trường kinh doanh hiện tại đòi hỏi ngân hàng phải có những chiến lược phù hợp và linh hoạt. Tương lai của VPBank phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới để duy trì vị thế cạnh tranh.

5.1. Tương Lai Của VPBank Trong Ngành Ngân Hàng

VPBank cần tiếp tục theo dõi các xu hướng mới trong ngành ngân hàng và điều chỉnh chiến lược của mình để đáp ứng kịp thời. Sự phát triển bền vững sẽ phụ thuộc vào khả năng đổi mới và cải tiến liên tục.

5.2. Đề Xuất Chiến Lược Phát Triển

Đề xuất các chiến lược phát triển dài hạn sẽ giúp VPBank không chỉ duy trì mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc xây dựng thương hiệu mạnh mẽ và phát triển sản phẩm mới sẽ là những yếu tố quan trọng trong tương lai.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ nâng cao năng lực cạnh tranh ngân hàng tmcp việt nam thịnh vượng vpbank trung tâm sme thăng long

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những quan điểm lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Cạnh tranh không những là môi trường, động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các DN nói riêng mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội.

Với các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, điển hình là ở Việt Nam quan niệm về cạnh tranh giữa các DN được hiểu một cách rất cứng nhắc và tiêu cực trong suốt một thời gian dài, chúng ta chỉ nhìn thấy mặt trái của cạnh tranh, phê phán cạnh tranh, coi cạnh tranh là mạnh đè yếu mà chưa thấy được những mặt tích cực của cạnh tranh. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, quan niệm về cạnh tranh của các DN ở nước ta đã được thay đổi cạnh tranh được thừa nhận và và coi cạnh tranh là yêu cầu tất yếu, là môi trường và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Cạnh tranh là một thuật ngữ đã được sử dụng từ khá lâu trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Lý thuyết về cạnh tranh đã được các nhà kinh tế học nghiên cứu từ rất sớm với các trường phái nổi tiếng: Lý thuyết cạnh tranh cổ điển, Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại.

Trong lĩnh vực kinh tế, ngày nay cạnh tranh càng được nhắc đến nhiều hơn, được coi là phương thức để đứng vững và phát triển của các DN. Tuy nhiên vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào về cạnh tranh trong nền kinh tế. Từ góc độ tổng thể nền kinh tế, cạnh tranh trong cơ chế thị trường có thể được hiểu là sự tranh giành giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường nhằm đạt được các lợi ích kinh tế về mình. Nếu xét từ các chủ thể kinh tế ở đây chính là các bên bán và bên mua các loại hàng hoá mà họ giao dịch, trong đó bên mua thì muốn mua được loại hàng có chất lượng cao, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng mà giá cả lại hợp lý.

Ngược 9 lại, bên bán bao giờ cũng hướng tới tối đa hoá lợi nhuận bằng cách bán được nhiều hàng với giá cao. Vì vậy, các bên cạnh tranh với nhau để giành những phần có lợi hơn về mình. Nhà kinh tế học người Anh là Adam Smith khi bàn về vai trò của “bàn tay vô hình”, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của cạnh tranh và coi cạnh tranh là điều kiện quan trọng cho sự tự do về kinh tế. Theo Adam Smith, cạnh tranh sẽ làm cho giá cả được duy trì ở mức tự nhiên và giá cả cạnh tranh là mức giá cả thấp nhất mà các nhà sản xuất có thể tiếp tục sản xuất, cạnh tranh giữa người mua làm cho giá tăng thì cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá giảm.

Nói cánh khác, cạnh tranh là động lực để các nhà sản xuất làm ra sản phẩm với mức chi phí hợp lý và một mức giá được người tiêu dùng chấp nhận. Theo Karl Marx trong bộ Tư bản cho rằng: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch” (Karl Max, 2004) Ở đây, Marx đã đề cập đến vấn đề cạnh tranh trong một không gian hẹp chủ nghĩa tư bản. Lúc này cạnh tranh được xem là sự lấn át, chèn ép lẫn nhau để tồn tại, quan niệm về cạnh tranh được nhìn nhận từ góc độ khá tiêu cực. Theo Michael Porter: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần.

Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức trung bình mà DN đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả là giá cả có thể giảm đi” (Michael Porter,1990). Theo diễn đàn cao cấp về Cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Cạnh tranh là khả năng của các DN, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” (OECD,1996). Khái niệm này được coi là phù hợp nhất vì nó được sử dụng kết hợp cho cả DN, ngành, quốc gia, phản ánh được mối liên hệ giữa cạnh tranh quốc gia với cạnh tranh của các DN, tạo việc làm, tăng thu nhập và mức sống nhân dân.

Cạnh tranh của các DN được quan niệm là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư 10 liệu sản xuất nhằm giành được những điều kiện thuận lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ để thu được lợi nhuận lớn nhất đồng thời thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Chúng ta cùng có thể hiểu theo nghĩa chung nhất cạnh tranh của các DN là sự ganh đua giữa các DN trong nước và quốc tế trong việc giành giật KH hoặc thị trường mà kết quả cuối cùng là để tiêu thụ được ngày càng nhiều hàng hoá với lợi nhuận cao.2 năng lực cạnh tranh. Khái niệm năng lực cạnh tranh được sử dụng không chỉ đối với sự ganh đua giữa các sản phẩm của các DN, giữa các DN với nhau mà còn được sử dụng trong việc so sánh năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Những năm gần đây, khái niệm năng lực cạnh tranh ngày càng được nhiều người quan tâm, từ các nhà nghiên cứu, các chính trị gia đến các nhà quản lý chính quyền và giới doanh nhân.

Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm này vẫn chưa được sử dụng một cách thống nhất. Từ thực tế tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau, năng lực cạnh tranh có thể được định nghĩa như sau: Theo Porter (1990), năng lực cạnh tranh là khả năng của một tổ chức kinh tế, một địa phương hay một quốc gia có thể cạnh tranh trên thị trường về một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó, thể hiện ưu thế của tổ chức kinh tế, một địa phương hay một quốc gia trong việc đáp ứng một cách bền vững và lâu dài nhu cầu của KH về sản phẩm hay dịch vụ đó, tổng hoà các yếu tố kỹ thuật, công nghệ, tổ chức và quản lý trong việc cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường( Porter, 1990) Theo OECD (1996), năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho DN, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo từ điển Thuật ngữ Kinh tế học của tác giả Mai Hữu Khuê (2001), năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị trường. 11 Theo Bạch Thụ Cường (2002) trong từ điển thuật ngữ chính sách thương mại, năng lực cạnh tranh là năng lực của một DN hoặc một ngành, một quốc gia không bị DN khác, ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế.

Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (2006), năng lực cạnh tranh là khả năng của một đất nước trong việc đạt được tỉ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cao và bền vững. Tóm lại, cùng với sự phát triển phức tạp của các hiện tượng kinh tế xã hội, khái niệm năng lực cạnh tranh được diễn giải theo nhiều nghĩa, và chưa rõ ràng. Từ các quan niệm trên, có thể rút ra một kết luận chung là: năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ ưu việt hơn và phù hợp hơn đối với nhu cầu của thị trường so với các đối thủ cạnh tranh, tạo ra lợi thế hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường.3 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo Aldington Report (1985), DN có khả năng cạnh tranh là DN có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế.

Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của DN và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ DN. Theo Fafchamps (1999), năng lực cạnh tranh là khả năng DN có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, có nghĩa là DN nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của DN khác, nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có khả năng cạnh tranh cao. Năng lực cạnh tranh của DN là sự thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của KH để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. 12 Năng lực cạnh tranh của DN được tạo ra từ thực lực của DN và là các yếu tố nội hàm của mỗi DN.

năng lực cạnh tranh được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị DN,… , gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà DN đưa ra thị trường. Năng lực cạnh tranh của DN gắn với thị phần mà nó nắm giữ. Cũng có quan điểm đồng nhất của DN với hiệu quả sản xuất kinh doanh… Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ