Lời mở đầu, Kết luận và Phụ lục, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại. 6 Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động và năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Công thƣơng Hà Tĩnh Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Công thƣơng Hà Tĩnh 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Một số khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Trƣớc đây, khi nghiên cứu về chủ nghĩa tƣ bản, C.Mác đã đề cập tới vấn đề cạnh tranh của các nhà tƣ bản.Mác: "Cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch".Mác đã đề cập tới vấn đề cạnh tranh trong xã hội tƣ bản chủ nghĩa, mà đặc trƣng của chế độ này là chế độ chiếm hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất.
Do vậy, theo quan niệm này thì cạnh tranh có nguồn gốc từ chế độ tƣ hữu. Cạnh tranh đƣợc xem xét là sự lấn át, chèn ép lẫn nhau để tồn tại. Quan niệm đó về cạnh tranh đƣợc nhìn nhận từ góc độ tiêu cực. Ở Việt Nam, trong một thời gian dài trƣớc đây, cạnh tranh cũng đƣợc nhìn nhận dƣới góc độ tiêu cực: cạnh tranh gắn với đổ vỡ, cạnh tranh là tiêu diệt lẫn nhau, là “cá lớn nuốt cá bé”.
Nhận thức không đầy đủ về cạnh tranh đã dẫn tới không thừa nhận cạnh tranh, tạo ra sự độc quyền, nuôi dƣỡng độc quyền trong nền kinh tế. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trƣờng hiện đại hiện nay, cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất - kinh doanh (năng lực tổ chức quản lý, trình độ công nghệ, trình độ tay nghề, .), nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Cạnh tranh không phải chỉ có tranh giành, mà cạnh tranh luôn đi với hợp tác, cạnh tranh trong sự hợp tác và bổ sung, hỗ trợ cho nhau.
Do đó, ngày nay hầu hết các nƣớc trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là môi trƣờng vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. 8 Nhƣ vậy, cạnh tranh có thể đƣợc hiểu là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trƣờng hàng hoá cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị trƣờng, thông qua đó mà tiêu thụ đƣợc nhiều hàng hoá và thu đƣợc lợi nhuận cao. Cạnh tranh là sức mạnh mà hầu hết các nền kinh tế thị trƣờng tự do dựa vào để đảm bảo rằng các doanh nghiệp thoả mãn đƣợc các nhu cầu và mong muốn của ngƣời tiêu dùng. Khi có cạnh tranh, không một chính phủ nào cần phải quy định các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng gì với số lƣợng, chất lƣợng và giá cả thế nào.
Cạnh tranh trực tiếp quy định những vấn đề đó với các doanh nghiệp. Khái niệm năng lực cạnh tranh Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh) của doanh nghiệp. Có quan niệm gắn sức cạnh tranh với ƣu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đƣa ra thị trƣờng. Có quan điểm lại gắn sức cạnh tranh của doanh nghiệp theo thị phần mà nó chiếm giữ, có ngƣời lại đồng nghĩa công cụ cạnh tranh với các chỉ tiêu đo lƣờng sức cạnh tranh của hàng hoá, của doanh nghiệp, và thậm chí có ngƣời còn đồng nghĩa sức cạnh tranh với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên có thể hiểu một cách chung nhất: “Năng lực cạnh tranh chính là thực lực và lợi thế mà quốc gia (ngành, doanh nghiệp hay sản phẩm dịch vụ) có thể huy động đƣợc để duy trì và cải thiện vị trí của nó so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trƣờng thế giới một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu đƣợc lợi ích ngày càng cao cho nền kinh tế của mình và cho quốc gia (ngành, doanh nghiệp hay sản phẩm dịch vụ) mình.” Nhƣ vậy, năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, đƣợc cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trƣờng vi mô và vĩ mô, là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố và chịu tác động của nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài của quốc gia (ngành, doanh nghiệp, hay sản phẩm dịch vụ). Tổng quan về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Các ngân hàng có thể đƣợc định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ mà chúng thực hiện trong nền kinh tế.
Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đang không ngừng thay đổi. Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tƣơng hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngƣợc lại, ngân hàng cũng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tƣ vào quỹ tƣơng hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Ngân hàng thƣơng mại.
Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phƣơng diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện đại: “Ngân hàng thƣơng mại là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Ở Pháp, theo Đạo luật ngân hàng của Pháp năm 1941: “Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thƣờng xuyên nhận của công chúng dƣới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng năm 2010: “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” (Luật TCTD, 2010, Điều 4) 10 Nhƣ vậy, Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn.
Ngân hàng thƣơng mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động của ngân hàng thƣơng mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân hàng thƣơng mại. Hoạt động của ngân hàng thƣơng mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội. Qua những khái niệm trên, ta có thể rút ra một số điểm đặc trƣng của Ngân hàng thƣơng mại nhƣ sau: Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức đƣợc phép sử dụng ký thác của công chúng với trách nhiệm hoàn trả.
Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức đƣợc phép sử dụng ký thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác Hiện nay, ngân hàng thƣơng mại thực sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế đƣợc lƣu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một nền kinh tế thị trƣờng còn non yếu. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thƣơng mại thể hiện ở thực lực và lợi thế của Ngân hàng thƣơng mại đó so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Nhƣ vậy, năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thƣơng mại trƣớc hết phải đƣợc tạo ra từ thực lực của chính ngân hàng đó. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi ngân hàng, không chỉ đƣợc tính bằng các tiêu chí về công nghệ, 11 tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trƣờng.
Năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thƣơng mại thể hiện ở khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ với giá cả thấp hoặc hợp lý, chất lƣợng cao, uy tín cao, thực hiện tốt các cam kết với các bạn hàng và làm hài lòng khách hàng. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, ngoài các yếu tố nội hàm, Ngân hàng thƣơng mại còn phải tạo lập đƣợc lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, Ngân hàng thƣơng mại có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng nhƣ lôi kéo đƣợc khách hàng của đối tác cạnh tranh. Nói tóm lại, năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại là sự tổng hợp của các yếu tố từ công tác chỉ đạo và điều hành, chất lƣợng đội ngũ cán bộ, uy tín và thƣơng hiệu của Ngân hàng thƣơng mại.
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng đƣợc đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, khả năng thu lợi nhuận của Ngân hàng trong môi trƣờng cạnh tranh trong và ngoài nƣớc. Để duy trì sự tồn tại và phát triển trong một thời gian dài đòi hỏi Ngân hàng thƣơng mại phải có một năng lực cạnh tranh tốt. Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại đƣợc cấu thành nên từ những lợi thế cạnh tranh trong từng giai đoạn của Ngân hàng.