Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan về năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. 123doc 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Giới thiệu chương 2 Chương 2 tiến hành hệ thống các khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh trong hoạt động huy động vốn tiền gửi tại NHTM, đồng thời trình bày các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gửi tại NHTM.1 Hoạt động huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm về hoạt động huy động vốn tiền gửi Theo Luật các tổ chức tín dụng (2010), huy động vốn tiền gửi hay còn gọi là hoạt động nhận tiền gửi được định nghĩa như sau: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”. Theo Nguyễn Đăng Dờn (2013) thì hoạt động ngân hàng tạm thời quản lý, sử dụng tài sản bằng tiền của người gửi tiền, đồng thời có trách nhiệm hoàn trả số tiền này được gọi là hoạt động huy động vốn tiền gửi và chỉ có NHTM mới được quyền huy động vốn tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau. Như vậy, huy động vốn tiền gửi là hoạt động nhằm gia tăng nguồn vốn khả dụng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của NHTM.
Theo đó, NHTM thực hiện tiếp nhận nguồn tiền nhàn rỗi từ các tổ chức, cá nhân dưới nhiều hình thức khác nhau và phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả cho người gửi tiền đầy đủ số tiền gốc và lãi phát sinh (nếu có) trong quá trình gửi tiền theo thỏa thuận của các bên.2 Các nguyên tắc trong huy động vốn tiền gửi Theo Trầm Thị Xuân Hương (2013) thì ngân hàng thương mại khi thực hiện huy động tiền gửi cần phải tuân thủ ba nguyên tắc cơ bản là: hoàn trả, trả lãi và bảo mật. - Hoàn trả: là một trong ba nguyên tắc cơ bản khi huy động vốn tiền gửi. Khi đến hạn hoặc khi được khách hàng yêu cầu, NHTM phải thực hiện nghĩa vụ chi trả 123doc 6 cho khách hàng số tiền đã gửi trước đó (bao gồm tiền gốc và lãi nếu có). Để đáp ứng kịp thời nhu cầu rút tiền của khách hàng, NHTM cần phải dự trữ một lượng tiền nhất định theo quy định của NHNN, đồng thời phải sử dụng nguồn vốn huy động sao cho hiệu quả và tuân thủ các tỷ lệ về an toàn vốn mà Pháp luật đã quy định.
Bên cạnh đó, NHTM bắt buộc phải mua bảo hiểm tiền gửi tại các tổ chức bảo hiểm tiền gửi để bảo đảm quyền lợi cho khách hàng gửi tiền trong trường hợp NHTM bị phá sản do kinh doanh thua lỗ. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ thay mặt NHTM hoàn trả tiền gửi cho khách hàng theo mức phí chi trả tối đa theo quy định trong từng thời kỳ. - Trả lãi: ngân hàng phải chi trả tiền lãi cho khách hàng khi huy động vốn tiền gửi từ khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Giữa ngân hàng và khách hàng sẽ thỏa thuận mức lãi suất để xác định số tiền lãi phải trả khi đến hạn.
Lãi suất được ấn định tùy theo kỳ hạn gửi tiền và chính sách của ngân hàng trong từng kỳ. Đây là nguyên tắc vừa bảo toàn số tiền của khách hàng gửi tại ngân hàng, vừa tạo ra thu nhập thích đáng cho khách hàng. Do đó, các hình thức huy động vốn tiền gửi của ngân hàng như gửi tiền tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu được xem là một kênh đầu tư an toàn và phù hợp cho người gửi tiền. - Bảo mật: Để có thể huy động vốn tiền gửi từ khách hàng, NHTM phải có được sự tín nhiệm của khách hàng.
Vì thế, để tạo dựng uy tín của ngân hàng thì công tác bảo mật thông tin của khách hàng gửi tiền cần phải tuân thủ nghiêm ngặt, cụ thể là ngân hàng phải giữ gìn bí mật số dư tiền gửi, tình hình hoạt động tài khoản của khách hàng và các thông tin khác có liên quan đến khách hàng. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp ngân hàng có thể cung cấp thông tin cho bên thứ ba nếu được cơ quan chức năng yêu cầu hoặc ngân hàng nhận thấy dấu hiệu rửa tiền đối với các khoản tiền lớn và bất thường.3 Vai trò của hoạt động huy động vốn tiền gửi Nguyễn Minh Kiều (2013) cho rằng hoạt động huy động vốn tiền gửi không chỉ có vai trò quan trọng đối với ngân hàng thương mại mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế cũng như đối với khách hàng. 123doc 7 - Đối với nền kinh tế: bằng các hình thức huy động vốn tiền gửi của các NHTM, một lượng vốn nhàn rỗi từ nhiều thành phần kinh tế trong xã hội được tập trung lại ở quy mô rất lớn và nguồn vốn này sẽ được cung ứng cho các đối tượng cần vốn để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, đây chính là nguồn vốn rất quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia.
Ngoài ra, hoạt động huy động vốn tiền gửi của NHTM giúp NHTW kiểm soát khối lượng tiền tệ đang được lưu thông trong nền kinh tế để từ đó có thể kiểm soát lạm phát, bình ổn giá cả. - Đối với khách hàng: các hình thức nhận tiền gửi của NHTM cung cấp cho các khách hàng có một kênh để đầu tư an toàn, có mức sinh lời hợp lý và đây cũng là một phương thức để khách hàng tích trữ của cải nhằm đáp ứng kế hoạch tài chính của họ trong tương lai. Ngoài ra, thông qua hoạt động huy động vốn khách hàng có thể tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng như là là dịch vụ thanh toán, dịch vụ tín dụng. - Đối với NHTM: Hoạt động huy động vốn tiền gửi mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác như cấp tín dụng, đầu tư, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán, ủy thác…từ đó tạo ra nguồn thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng.
Ngoài ra, thị phần huy động vốn của ngân hàng càng phát triển thì uy tín và thương hiệu của ngân hàng ngày càng được củng cố và nâng cao.2 Năng lực cạnh tranh trong huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm về cạnh tranh - Cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau. Theo Michael Porter (1980) thì “cạnh tranh trong kinh doanh là giành lấy thị phần, bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận và khoản lợi nhuận đó phải cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đạt được. Điều đó có nghĩa là, kết quả của quá trình cạnh tranh đảm bảo được lợi nhuận bình quân trong ngành theo chiều hướng cải thiện tốt nhất, đồng thời giá cả của sản phẩm là thấp nhất.” 123doc 8 Allen và Gale (2000) định nghĩa cạnh tranh là sự ganh đua của người bán nhằm đạt kết quả tốt hơn so với những người bán khác (về doanh số, lợi nhuận và thị phần) bằng cách đưa ra sự kết hợp tốt nhất về giá, chất lượng và dịch vụ. Từ điển Bách khoa Việt Nam (1996) định nghĩa: “cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”.
Từ những định nghĩa trên, có thể thấy về cơ bản, cạnh tranh là quá trình một chủ thể nỗ lực vượt qua đối thủ của mình để đạt được một hay một số mục tiêu nhất định. Như vậy, cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gửi tại các NHTM là sự ganh đua giữa các NHTM để có được khách hàng tiền gửi để từ đó mở rộng thị phần tiền gửi, tăng cường và ổn định nguồn vốn kinh doanh. - Năng lực cạnh tranh Trong các nghiên cứu thì năng lực cạnh tranh thường được phân loại thành 04 cấp độ là năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ. Theo Michael Porter (1980) thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng sử dụng những lợi thế sẵn có của doanh nghiệp nhằm duy trì, mở rộng thị phần và gia tăng lợi nhuận trong môi trường cạnh tranh trong nước và nước ngoài.
Bên cạnh đó, Michael Porter (1980) cho rằng năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ là sự vượt trội của sản phẩm/dịch vụ (về nhiều chỉ tiêu) so với sản phẩm/dịch vụ cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ còn là một trong những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai khái niệm rất gần với nhau. Từ những khái niệm nêu trên, có thể khái quát năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gửi là khả năng của NHTM trong việc thỏa mãn khách hàng tiền gửi tốt hơn đối thủ cạnh tranh thông qua việc duy trì và phát triển những 123doc 9 lợi thế vốn có nhằm mở rộng thị phần huy động vốn, tăng cường và ổn định nguồn vốn kinh doanh cho ngân hàng.2 Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh 2.1 Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter (2008) Theo mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter (2008), các doanh nghiệp luôn phải đối đầu với năm áp lực cạnh tranh sau đây: sự xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh mới, nguy cơ từ sản phẩm/dịch vụ thay thế, áp lực từ khách hàng, áp lực từ nhà cung cấp và áp lực từ các đối thủ cạnh tranh hiện tại.
Việc vận dụng mô hình này để phân tích, đánh giá giúp doanh nghiệp nhận ra những cơ hội và thách thức.