Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam đã ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc về quy mô kinh tế trong giai đoạn 1998–2008, khi tổng doanh thu toàn ngành tăng từ mức dưới 50 triệu USD lên hơn 650 triệu USD. Số lượng doanh nghiệp công nghệ thông tin cũng mở rộng mạnh mẽ từ khoảng 25 đơn vị quy mô nhỏ vào năm 2000 lên tới hơn 1.000 doanh nghiệp vào năm 2011. Tuy nhiên, dù hai trung tâm công nghệ lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh liên tục lọt vào danh sách 20 điểm đến gia công phần mềm mới nổi hấp dẫn nhất thế giới, sức cạnh tranh của ngành phần mềm nội địa vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Doanh thu sản xuất phần mềm của Việt Nam năm 2009 chỉ tương đương 1,2% so với Ấn Độ, 3,4% so với Trung Quốc và 9,4% so với Philippines.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam chủ yếu dựa vào lợi thế chi phí lao động thấp – một lợi thế thiếu bền vững khi chi phí đầu vào có xu hướng gia tăng và đã bắt đầu bị thị trường Indonesia vượt qua từ tháng 12 năm 2010. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là xác định vị trí thực tế của doanh nghiệp phần mềm Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, phân tích các chiến lược kinh doanh đang được áp dụng, đánh giá bốn nhóm nhân tố ảnh hưởng trọng yếu bao gồm nguồn nhân lực, hạ tầng nghiên cứu triển khai, bảo hộ sở hữu trí tuệ và vốn đầu tư mạo hiểm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh nội sinh, tạo nền tảng để ngành công nghiệp phần mềm đạt tỷ trọng 2,5% tổng sản phẩm nội địa (GDP) và giải quyết việc làm cho 400.000 lao động vào năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết chuỗi giá trị dịch vụ công nghệ thông tin toàn cầu của Keun Lee và Tae Young Park (2010), phân định cấu trúc ngành phần mềm thành bốn phân lớp có giá trị gia tăng và độ phức tạp kỹ thuật tăng dần: phân lớp 1 gồm lập trình và kiểm thử phần mềm; phân lớp 2 gồm thiết kế, phát triển và bảo trì phần mềm (ADM); phân lớp 3 là tích hợp hệ thống; và phân lớp 4 cao nhất là tư vấn giải pháp và lập kế hoạch chiến lược. Song song đó, luận văn tích hợp mô hình các chỉ số dẫn báo năng lực cạnh tranh và sự thịnh vượng tương lai của Michael Porter (2010), trong đó khẳng định năng lực sáng tạo cùng với đầu tư và thương mại là các trụ cột quyết định năng suất và vị thế cạnh tranh dài hạn.

Hệ thống khái niệm nền tảng được làm rõ gồm ba cấp độ sáng tạo công nghệ: tiếp nhận sử dụng công nghệ chuyển giao, cải tiến công nghệ sẵn có, và sáng tạo ra tri thức hoặc sản phẩm mới độc lập; cùng các quy chuẩn kỹ thuật như chứng nhận quy trình tích hợp quản lý năng lực sản xuất phần mềm (CMMi) và mô hình gia công quy trình nghiệp vụ (BPO).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích so sánh liên quốc gia và phân tích tình huống điển hình (case study). Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp và xử lý từ nguồn thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, Sách Trắng Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt Nam 2010, Hội Tin học Thành phố Hồ Chí Minh (HCA), Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam (VINASA), cùng các báo cáo chuyên ngành quốc tế của Gartner, Tholons, GlobalServices và Liên minh Doanh nghiệp Phần mềm Toàn cầu (BSA).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm lựa chọn 5 trường hợp điển hình đại diện cho các phân khúc và cấu phần của hệ sinh thái phần mềm: Tập đoàn FPT (đại diện quy mô doanh nghiệp hàng đầu và đào tạo nhân lực), Công ty Giải pháp Phần mềm CMC (đại diện triển khai phần mềm quản trị ERP), Công ty Cổ phần VNG (đại diện thị trường giải trí trực tuyến), Công ty Lạc Việt (đại diện phát triển phần mềm đóng gói và sở hữu trí tuệ), và Công viên Phần mềm Quang Trung (đại diện hạ tầng tập trung). Cỡ mẫu phân tích nhân lực bao gồm toàn bộ dữ liệu 8 đợt thi tuyển đầu vào của FPT Software trong hai tháng đầu năm 2011 với hơn 200 ứng viên tham gia. Việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu tình huống sâu cho phép bóc tách toàn diện các rào cản nội tại và sự tương tác đa chiều giữa chính sách, giáo dục, tài chính và năng lực sáng tạo mà các mô hình hồi quy định lượng thuần túy khó nắm bắt trọn vẹn trong khung thời gian nghiên cứu từ 1998 đến 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cấu trúc quy mô và doanh thu của ngành phần mềm Việt Nam có sự phân hóa cực đoan. Chỉ 5% tổng số doanh nghiệp dẫn đầu chi phối tới 95% tổng doanh số dịch vụ phần mềm và đóng góp xấp xỉ 100% kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Về quy mô nhân sự, 38% số doanh nghiệp chỉ có dưới 20 nhân viên, trong khi nhóm doanh nghiệp quy mô lớn trên 500 nhân sự chỉ chiếm 1%. Tính đến tháng 6 năm 2010, toàn quốc mới có 10 trên tổng số hơn 1.000 doanh nghiệp đạt chứng nhận quy chuẩn CMMi, khoảng cách rất xa so với Ấn Độ với 5.500 doanh nghiệp đạt ISO 9000 và 185 doanh nghiệp đạt chuẩn CMMi mức độ 4 và 5.

Thứ hai, doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đang nằm ở tầng đáy của chuỗi giá trị toàn cầu. Các dịch vụ cung ứng chủ yếu dừng lại ở phân lớp 1 với hoạt động viết mã theo đơn đặt hàng và kiểm thử phần mềm ở cấp độ đơn vị. Chiến lược cạnh tranh phổ biến là sao chép, thích ứng hoặc Việt hóa các giải pháp nước ngoài. Điển hình như tại thị trường trò chơi trực tuyến, VNG chiếm 65% thị phần với doanh thu 50 triệu USD năm 2009 nhưng có tới 10 trên 11 tựa game là nhập khẩu chuyển ngữ từ nước ngoài. Trong lĩnh vực phần mềm doanh nghiệp, CMC chủ yếu đóng vai trò đối tác địa phương hóa gói ứng dụng SAP Business One thay vì tự xây dựng hệ thống ERP hoàn chỉnh.

Thứ ba, sự thiếu hụt nghiêm trọng về chất lượng nhân lực và hạ tầng nghiên cứu phát triển (R&D). Phân tích kết quả thi tuyển của FPT Software cho thấy tỷ lệ trúng tuyển chỉ đạt 24,23%, trong đó tỷ lệ đạt chuẩn kiến thức chuyên ngành chỉ đạt 61,92% và chỉ số IQ đạt chuẩn chỉ ở mức 31,15%. Về hạ tầng, tại Công viên Phần mềm Quang Trung (QTSC), các doanh nghiệp nước ngoài chiếm 55% tổng vốn đăng ký, lấn át khu vực trong nước (45%), đồng thời sau 10 năm hoạt động mới chỉ thu hút được 1 trung tâm R&D quốc tế của tập đoàn HP và thiếu hẳn hệ sinh thái dịch vụ chuyển giao công nghệ theo chuẩn UNIDO.

Thứ tư, tình trạng vi phạm bản quyền nghiêm trọng và sự khan hiếm nguồn vốn đầu tư mạo hiểm (VC). Tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm tại Việt Nam năm 2009 ở mức 85%, đứng thứ 13 thế giới và gây thiệt hại ước tính hơn 200 triệu USD. Sản phẩm Từ điển Lạc Việt ước tính tổn thất 58 tỷ đồng trong năm 2009 do 1,5 triệu máy tính sử dụng bản bẻ khóa. Về tài chính, toàn thị trường chỉ có 5 quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động (so với 58 quỹ tại Ấn Độ và 89 quỹ tại Trung Quốc), và tỷ trọng phân bổ vốn cho phân khúc công nghệ phần mềm chỉ chiếm khoảng 25% trong danh mục của các quỹ lớn như IDG Venture Vietnam.

Thảo luận kết quả

Thực trạng các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam chậm nâng cấp lên các công đoạn có giá trị cao hơn như thiết kế, phân tích nghiệp vụ (ADM) và R&D bắt nguồn từ nguyên nhân thiếu hụt năng lực sáng tạo nội sinh. Khi so sánh với Ấn Độ, quốc gia này đã sớm đầu tư các cơ sở đào tạo chuyên sâu như mô hình đại học doanh nghiệp của Infosys với hơn 200.000 kỹ sư để chuyển dịch thành công sang phân khúc quản lý dự án phức tạp. Trong khi đó, khung chương trình đào tạo kỹ sư công nghệ thông tin tại các trường đại học công lập Việt Nam dành tới 38,62% khối lượng cho giáo dục đại cương, thiếu vắng các môn học mang tính thực chiến như kiểm thử phần mềm, kiến trúc giao diện hay quản lý dự án.

Các phát hiện nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình tháp chuỗi giá trị nhằm minh họa sự dồn ứ của doanh nghiệp Việt Nam tại đáy tháp phân lớp 1, đối lập với đồ thị phân bổ nhân lực đa tầng tại Bangalore hay Thượng Hải. Đồng thời, bảng ma trận đối sánh 10 tiêu chí năng lực của Gartner cho thấy rõ Việt Nam chỉ đạt điểm tối ưu ở tiêu chí chi phí, nhưng xếp ở bậc thấp nhất về an ninh thông tin và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tạo nên rào cản trực tiếp đối với dòng vốn đầu tư công nghệ cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam, bốn nhóm giải pháp hành động chiến lược cần được triển khai đồng bộ:

Thứ nhất, cải cách chương trình đào tạo nhân lực công nghệ thông tin. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành cơ chế cho phép các cơ sở giáo dục đại học gỡ bỏ khung chương trình cứng nhắc trước năm 2013; áp dụng các chuẩn kiểm định quốc tế như ABET, ACM hoặc ITSS của Nhật Bản. Mục tiêu nâng tỷ trọng thời lượng các môn chuyên ngành ứng dụng thực tế lên tối thiểu 60% tổng chương trình, đáp ứng chỉ tiêu đào tạo 400.000 kỹ sư công nghệ đạt chuẩn chất lượng vào năm 2015.

Thứ hai, thiết lập khung khổ khuyến khích và liên kết vốn đầu tư mạo hiểm. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Bộ Tài chính nghiên cứu ban hành quy chế pháp lý công nhận loại hình quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa trước quý II năm 2013; xúc tiến thành lập Hiệp hội Đầu tư Mạo hiểm Việt Nam (VVCA). Đồng thời, thiết lập văn phòng đại diện khoa học công nghệ của Việt Nam tại Thung lũng Silicon và Bangalore để làm cầu nối thu hút các định chế tài chính quốc tế, hướng tới nâng tỷ trọng vốn giải ngân cho các dự án phần mềm khởi nghiệp lên mức tối thiểu 40% tổng nguồn vốn mạo hiểm trong giai đoạn 2012–2015.

Thứ ba, chuyển đổi mô hình các khu công viên phần mềm sang cụm sáng tạo R&D. Ban quản lý các khu công nghệ thông tin tập trung như QTSC đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống dịch vụ hỗ trợ theo chuẩn UNIDO, ưu tiên phát triển trung tâm chuyển giao công nghệ và vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao trước năm 2014. Xây dựng gói ưu đãi đặc thù về thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền thuê đất nhằm nâng tỷ lệ doanh nghiệp phần mềm nội địa hoạt động trong các công viên lên trên 60%, đồng thời thu hút tối thiểu 5 tập đoàn công nghệ đa quốc gia thành lập trung tâm R&D chuyên trách trước năm 2015.

Thứ tư, siết chặt kỷ cương thực thi Luật Sở hữu trí tuệ. Cục Cảnh sát Phòng chống Tội phạm Công nghệ cao phối hợp với Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mở rộng các đợt thanh tra định kỳ việc chấp hành bản quyền tại các doanh nghiệp thương mại và đơn vị phát triển phần mềm; nâng mức chế tài xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự với hành vi phân phối phần mềm bẻ khóa. Mục tiêu chiến lược là kéo giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm toàn quốc từ mức 85% xuống dưới 70% vào năm 2015, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch để doanh nghiệp yên tâm tái đầu tư lợi nhuận vào hoạt động R&D.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách công thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, và ban quản lý các khu công nghệ cao. Tài liệu cung cấp cơ sở thực chứng để đánh giá đúng vị thế cạnh tranh quốc gia, từ đó xây dựng các nghị định hướng dẫn về cơ chế ưu đãi thuế, phát triển mạng lưới quỹ đầu tư mạo hiểm và quy hoạch các cụm đổi mới sáng tạo R&D.

Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo và các nhà quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp phần mềm. Luận văn hỗ trợ nhận diện các rủi ro của mô hình gia công thuần túy dựa vào nhân công giá rẻ, định hình lộ trình chuyển đổi mô hình kinh doanh sang sáng tạo sản phẩm độc lập và đầu tư chuẩn hóa quy trình quản trị dự án theo chuẩn CMMi cấp độ cao.

Nhóm thứ ba là các nhà đầu tư tổ chức, nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm và chuyên viên tài chính công nghệ. Công trình phân tích chi tiết cơ cấu thị trường, tiềm năng tăng trưởng và các điểm nghẽn về dòng vốn của ngành phần mềm Việt Nam, giúp các quỹ nhận diện đúng cơ hội giải ngân vào các mô hình kinh doanh giàu tiềm năng đổi mới.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên sau đại học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Chính sách công và Hệ thống thông tin quản lý. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh kết hợp lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu và lý thuyết năng lực cạnh tranh cụm ngành của Michael Porter áp dụng vào thực tiễn ngành công nghệ Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lợi thế chi phí nhân công thấp không còn là động lực cạnh tranh bền vững của ngành phần mềm Việt Nam?
Nghiên cứu của Gartner chỉ ra rằng lợi thế chi phí thấp của Việt Nam đã bị Indonesia bắt kịp từ tháng 12 năm 2010. Việc tập trung vào nhân công giá rẻ khiến giá trị gia tăng trên mỗi kỹ sư ở mức rất thấp, kéo theo doanh thu toàn ngành năm 2009 chỉ bằng 9,4% so với Philippines, đồng thời khiến doanh nghiệp dễ bị tổn thương khi chi phí sinh hoạt và mặt bằng trong nước tăng cao.

Các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam cần giải quyết rào cản chuẩn chất lượng quốc tế CMMi như thế nào?
Tính đến năm 2010, Việt Nam mới chỉ có 10 trên 1.000 doanh nghiệp đạt chuẩn CMMi, trong khi Ấn Độ sở hữu tới 185 công ty đạt CMMi mức 4 và 5. Doanh nghiệp cần chủ động hợp tác với các vườn ươm công nghệ, đầu tư nâng cao năng lực quản trị quy trình và liên kết chuỗi giá trị nhằm đủ điều kiện tiếp nhận các hợp đồng phát triển phần mềm giá trị cao.

Đâu là nguyên nhân cốt lõi khiến nguồn nhân lực phần mềm chưa đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng?
Phân tích tại FPT Software cho thấy tỷ lệ trúng tuyển đầu vào chỉ đạt 24,23% do chương trình đào tạo đại học truyền thống dành tới 38,62% khối lượng cho kiến thức đại cương. Các trường công lập thiếu hụt ít nhất 8 môn học ứng dụng thực tế quan trọng như quản lý dự án công nghệ thông tin, kiểm thử chất lượng và lập trình hệ thống so với chương trình đào tạo của Đại học FPT.

Nạn vi phạm bản quyền gây thiệt hại thực tế như thế nào đối với các doanh nghiệp phát triển phần mềm nội địa?
Tỷ lệ vi phạm bản quyền ở mức 85% năm 2009 gây thất thoát hơn 200 triệu USD của toàn ngành. Điển hình như trường hợp của Từ điển Lạc Việt, việc có khoảng 1,5 triệu máy tính sử dụng bản lậu đã khiến công ty tổn thất doanh thu ước tính 58 tỷ đồng trong năm 2009, trực tiếp triệt tiêu nguồn tài chính phục vụ tái đầu tư nghiên cứu và phát triển.

Các khu công nghệ thông tin tập trung như Công viên Phần mềm Quang Trung cần bổ sung những dịch vụ then chốt nào?
Khảo sát theo tiêu chí UNIDO năm 2008 cho thấy các khu phần mềm Việt Nam mới chỉ đáp ứng dịch vụ mặt bằng hạ tầng cơ bản. Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, các công viên cần khẩn trương thiết lập trung tâm chuyển giao công nghệ, trung tâm phát triển kinh doanh và cơ chế kết nối với các viện nghiên cứu theo mô hình thành công của cụm công nghệ Bangalore tại Ấn Độ.

Kết luận

  • Xác định rõ vị trí của ngành phần mềm Việt Nam đang dồn ứ ở tầng đáy (phân lớp 1) của chuỗi giá trị toàn cầu, chủ yếu thực hiện gia công đơn giản và thiếu vắng năng lực sáng tạo tri thức mới.
  • Chỉ ra nút thắt chất lượng nguồn nhân lực khi tỷ lệ ứng viên vượt qua kỳ thi tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp đầu ngành chỉ đạt 24,23%, đòi hỏi phải cải cách triệt để khung chương trình giáo dục đại học.
  • Đánh giá vai trò của các khu phần mềm tập trung còn hạn chế trong việc tạo động lực R&D khi doanh nghiệp nước ngoài chiếm tới 55% mặt bằng nhưng thiếu vắng các trung tâm nghiên cứu chuyên sâu.
  • Phân tích thực trạng vi phạm bản quyền ở mức cao (85%) và sự thiếu hụt các quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa là hai lực cản trực tiếp làm triệt tiêu dòng vốn tài trợ cho các ý tưởng công nghệ mới.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp chính sách toàn diện giai đoạn 2012–2015 gồm nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế, hình thành mạng lưới quỹ đầu tư mạo hiểm, chuyển đổi cụm sáng tạo và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Để hiện thực hóa mục tiêu nâng tầm vị thế công nghiệp công nghệ thông tin quốc gia, các cơ quan quản lý nhà nước, các viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp triển khai các đề xuất chính sách trên, chuyển dịch trọng tâm cạnh tranh từ nhân công giá rẻ sang năng lực đổi mới sáng tạo bền vững.