Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đề tài Chương 2. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Chương 3. Thực trạng năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Hạ Long, Quảng Ninh - Việt Nam Chương 4.
Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Hạ Long, Quảng Ninh - Việt Nam 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Nghiên cứu về cạnh tranh, NLCT và NLCT của ĐĐDL đã thu hút đƣợc sự quan tâm của rất nhiều các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc trong thời gian gần đây. Những nghiên cứu về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh Có khá nhiều cách tiếp cận về cạnh tranh và cũng tồn tại khá nhiều khái niệm trong hệ thống lý thuyết cạnh tranh. Lý thuyết cạnh tranh và NLCT đến nay có thể đƣợc chia thành trƣờng phái cổ điển và trƣờng phái hiện đại.
Adam Smith - với tƣ cách là một học giả kinh tế chính trị đã là ngƣời đầu tiên hoàn chỉnh, hệ thống hoá lý luận đồng thời đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của kinh tế học. Trƣờng phái cổ điển với tƣ tƣởng cạnh tranh và tự do kinh tế của A.Smith hƣớng vào mục tiêu phản đối sự can thiệp của Nhà nƣớc thông qua lý thuyết “bàn tay vô hình”. Và nhƣ vậy, trong thời kỳ này, các nhà nghiên cứu cổ điển đã nhận thấy cạnh tranh là cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế; tuy nhiên, lý thuyết của trƣờng phái cổ điển cũng chƣa đƣa ra khái niệm rõ ràng về cạnh tranh. Nghiên cứu của trƣờng phái hiện đại với đại diện là K.Marx trong bộ “Tƣ bản” thì khái niệm về cạnh tranh đã rõ ràng hơn.
Trong cuốn sách này, ông đã phân tích kỹ về chủ nghĩa tƣ bản và sự cách mạng hoá không ngừng từ bên trong của các doanh nghiệp [5].Porter - chuyên gia hàng đầu về chiến lƣợc và chính sách cạnh tranh và là cha đẻ của lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia thì khái niệm về cạnh tranh đƣợc xây dựng khá toàn diện [39]. Và cuối cùng, từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) cho ra đời một khái niệm về cạnh tranh thống nhất, đƣợc thừa nhận rộng rãi. Từ những nghiên cứu về cạnh tranh một cách chuyên sâu hơn, các nhà kinh tế đã đƣa ra những quan điểm về NLCT và xây dựng hệ thống lý luận về NLCT. Ngoài các nhà kinh tế cổ điển, các lý thuyết cạnh tranh gắn với các tên tuổi nổi tiếng của trƣờng phái cạnh tranh hoàn hảo nhƣ W.
và trƣờng phái canh tranh hiện đại nhƣ E.Porter, Micheal Eairbank,. Tuy nhiên, NLCT và việc nghiên cứu NLCT một cách hệ thống lại đƣợc bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những năm 1980 đến nay. Mỗi nhà nghiên cứu, mỗi công trình đều có cách tiếp cận riêng về NLCT nhƣ: Từ điển bách khoa điện tử Wikipedia, Rainer Feurer and Kazem Chaharbaghi (1994) trong “Defining Competitiveness: A Holistic Approach, Management Decision” [101] hay Klaus Schwab trong tác phẩm “The Global Competitiveness Report 2009 - 2010” tại Diễn đàn Kinh tế thế giới [108]. 7 Nhƣ vậy, có thể thấy các nhà nghiên cứu ngoài nƣớc thƣờng không đƣa ra khái niệm chung về NLCT mà chỉ đƣa ra khái niệm về khía cạnh cụ thể mà họ nghiên cứu.
Từ những nghiên cứu về cạnh tranh một cách chuyên sâu hơn, các nhà kinh tế đã đƣa ra những quan điểm về NLCT và xây dựng hệ thống lý luận về NLCT.Porter với các kết quả nghiên cứu, ông đã đƣa ra giải thích khá toàn diện về lợi thế cạnh tranh của một quốc gia/địa phƣơng hay các yếu tố quyết định đến NLCT của một quốc gia/địa phƣơng trong một ngành nhất định. Theo đó, NLCT đƣợc thể hiện qua bốn nhóm yếu tố: (1) Điều kiện các yếu tố sản xuất và dịch vụ; (2) Điều kiện về cầu; (3) Các ngành hỗ trợ và có liên quan; (4) Chiến lƣợc, cơ cấu và cạnh tranh của ngành. Các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và tạo nên khả năng cạnh tranh của một quốc gia, một địa phƣơng trong ngành. Mặc dù công trình không đi sâu vào lĩnh vực DVDL nhƣng lý thuyết cạnh tranh của M.Porter đã đƣợc sử dụng trong việc nghiên cứu NLCT của ngành DL.
[106] Bên cạnh đó, nghiên cứu NLCT trên các cấp độ cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều đồng tình và xem xét theo các cấp độ của NLCT đƣợc thể hiện ở cấp quốc gia, cấp ngành, cấp doanh nghiệp, cấp sản phẩm. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về NLCT điển hình có các tác giả: Bạch Thụ Cƣờng (2002) với tác phẩm “Bàn về cạnh tranh toàn cầu” [8]; Chu Văn Cấp (2003) với nghiên cứu “Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” [6]; Nguyễn Hữu Khải và cộng sự (2007) với nghiên cứu “Nghiên cứu NLCT hội nhập kinh tế thế giới của bảy lĩnh vực thuộc ngành dịch vụ Việt Nam” [20]; Đoàn Việt Dũng (2015) với nghiên cứu “Lý thuyết cấu trúc cạnh tranh ngành với việc nâng cao NLCT của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam hiện nay” [9]; Hoàng Nguyên Khai (2016) với nghiên cứu “Nâng cao NLCT của ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng” [20]; Phạm Thu Hƣơng (2017) với nghiên cứu “NLCT của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội” [18]. Có thể thấy, phần lớn những nghiên cứu tập trung vào phân tích các lý luận về NLCT, NLCT quốc gia, NLCT của doanh nghiệp trong một ngành hay nghiên cứu về các yếu tố nội tại tác động đến NLCT của doanh nghiệp.
Thêm vào đó, có các ý kiến cho rằng thực tế rất khó có thể đƣa ra những tiêu chí đánh giá đƣợc chính xác NLCT của ngành, đặc biệt là ngành dịch vụ do còn có những quan niệm khác nhau về NLCT cũng nhƣ khó khăn trong việc xác định các số liệu cụ thể liên quan. Những nghiên cứu về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch NLCT đƣợc xác định là một yếu tố quan trọng cho sự thành công của các ĐĐDL (Poon. A, 1993; Crouch và Ritchie, 1999; Kozak và Rimmington, 1999; Dwyer và Kim, 2003; Enright và Newton, 2004). Theo đó, NLCT của ĐĐDL là chủ đề đã thu hút đƣợc rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng nhƣ những ngƣời làm công tác thực tiễn trong và ngoài nƣớc.
Cụ thể: 8 Trên thế giới, đánh giá về NLCT của ĐĐDL có thể chia thành hai chủ đề chính: thứ nhất là xác định các khái niệm và xây dựng mô hình, các tiêu chí đánh giá NLCT của ĐĐDL và thứ hai là đo lƣờng thực nghiệm NLCT của ĐĐDL. Các tác giả cũng chỉ ra rằng trƣớc đây, các nghiên cứu có xu hƣớng nhấn mạnh phƣơng pháp định tính nhƣng gần đây các nghiên cứu có xu hƣớng sử dụng các phƣơng pháp định lƣợng hay hỗn hợp. Những nỗ lực nghiên cứu NLCT của ĐĐDL đã tập trung giải quyết các vấn đề khái niệm, cách tiếp cận, xác định các biến đo lƣờng NLCT của ĐĐDL và đề xuất các mô hình đánh giá NLCT của ĐĐDL ở phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ hay địa phƣơng cụ thể (Poon. A, 1993; Collins, 1993; Kozak và Remmington, 1999; Hassan, 2000; Heath, 2003; và Crouch và Ritchie, 2003; Dwyer và Kim, 2003; Enright và Newton, 2005; Crouch G.I, 2007; Meng F, 2008; Gomezalej và Mehalic, 2008; Gofi G, 2012; Mazurek, 2014; Ekin và Akbulut, 2015; Gupta và Singh, 2015; Molinar và cộng sự, 2017).
Qua tổng quan tài liệu cho thấy các nhà nghiên cứu đã có những quan điểm khá thống nhất về khái niệm NLCT của ĐĐDL (Metin Kozak, 1993; Hassan S.M, 2000; Crouch và Ritchie, 2003; Dwyer và Kim, 2003; Enright và Newton 2005; Benedetti J. Phần lớn các khái niệm tập trung vào ba nhóm tƣ tƣởng chính: lợi thế so sánh và/hoặc quan điểm cạnh tranh về giá; quan điểm chiến lƣợc và quản lý; quan điểm lịch sử và VHXH (xem mục 2. Bên cạnh việc đƣa ra các khái niệm, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu tập trung sâu hơn vào các cách thức để đánh giá, đo lƣờng NLCT của ĐĐDL. Các nhà nghiên cứu đã ý thức rằng ngoài lợi thế cạnh tranh và giá cả còn có nhiều biến số khác xác định NLCT của một ĐĐDL và nhiều các khung nghiên cứu và mô hình nghiên cứu về NLCT của ĐĐDL đƣợc phát triển và kiểm định theo nhiều không gian và thời gian.
Đầu tiên, phải kể đến công trình nghiên cứu “DL, Công nghệ và Chiến lược cạnh tranh” của Poon. Đây là công trình đƣợc đánh giá là đầu tiên, tiêu biểu khi cho rằng ngành DL phải có trách nhiệm với xã hội, văn hoá, kinh tế và sự tàn phá của môi trƣờng. Do đó, các ĐĐDL muốn nâng cao NLCT thì cần coi trọng hàng đầu tới môi trƣờng; đƣa DL thành lĩnh vực kinh tế dẫn đầu; phát triển các kênh phân phối trên thị trƣờng và xây dựng khu vực tƣ nhân năng động. Nghiên cứu của Poon.A đã khẳng định tầm quan trọng của bảo vệ môi trƣờng đồng thời xem xét sự liên kết giữa các ĐĐDL là yếu tố then chốt trong việc phát triển và thịnh vƣợng của ngành DL.
Đây cũng là xu thế phát triển chung của ngành DL hiện nay. Tuy nhiên, nghiên cứu của Poon.A chƣa chỉ ra các yếu tố cấu thành cũng nhƣ các tiêu chí để đánh giá NLCT của ĐĐDL. [105] Các nghiên cứu tiếp theo đã chỉ ra các tiêu chí cụ thể cũng nhƣ xây dựng đƣợc các mô hình nghiên cứu NLCT của ĐĐDL. Hassan (2000) xây dựng mô hình NLCT của ĐĐDL và xác định bốn nhân tố: lợi thế so sánh, định hƣớng cầu, cấu 9 trúc ngành và cam kết về môi trƣờng là những yếu tố quyết định NLCT của ĐĐDL.
Cùng quan điểm với Poon.A, Hassan trong nghiên cứu cũng nêu bật tầm quan trọng bảo vệ môi trƣờng trong việc khai thác KDDL có trách nhiệm với môi trƣờng nhằm tạo sự cân bằng và ổn định môi trƣờng, xã hội. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy lợi thế so sánh giống nhƣ trong nghiên cứu của M.Porter đƣợc sử dụng rộng rãi và là tiền đề để định hƣớng xây dựng chiến lƣợc phù hợp với vai trò, lợi thế của ngành DL. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ chú trọng vào quản trị tầm vĩ mô mà chƣa đi sâu vào các yếu tố cụ thể trong quản trị và đánh giá NLCT của ĐĐDL. Theo đó, nghiên cứu chƣa nêu bật đƣợc những yếu tố chủ yếu đo lƣờng NLCT của ĐĐDL rõ ràng và khi áp dụng vào thực tiễn một ĐĐDL cụ thể sẽ gặp nhiều khó khăn.