Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lí luận cơ bản về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á trong giai đoạn từ năm 2013 – 2018 Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á giai đoạn 2019 - 2025 7 CHƢƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƢ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thƣơng mại 2. Tổng quan về các ngân hàng thương mại 2. Khái niệm và chức năng của ngân hàng thương mại Tùy theo trình độ phát triển của từng thời kì, mỗi nền kinh tế của các quốc gia khác nhau sẽ đưa ra khái niệm về NHTM khác nhau.
Tại Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Tại Pháp, theo Đạo luật ngân hàng (1941) định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Việt Nam, theo Luật Các tổ chức tín dụng (Quốc hội khoá XII thông qua ngày 16/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2011), khái niệm Ngân hàng được đưa ra như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”.
Trong đó, ngân hàng thương mại là loại hình chiếm tỷ trọng lớn nhất xét theo số lượng và qui mô tổng tài sản. Tổng quát nhất, khái niệm ngân hàng được định nghĩa: “ ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa 8 dạng nhất, đăc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” “ Tóm lại, Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chính là nhận tiền kí gửi từ khách hàng và có trách nhiệm hoàn trả, đồng thời sử dụng số tiền trên để thực hiện các hoạt động cho vay, nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại bao gồm: - Chức năng trung gian tín dụng: Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Với chức năng này, ngân hàng đồng thời nhận tiền gửi và cho vay, sau đó hưởng lợi là số tiền chênh lệch của lãi suất cho vay trừ lãi suất nhận gửi.
Hoạt động cho vay được xem là hoạt động quan trọng và mang đến lợi nhuận lớn nhất cho các ngân hàng. - Chức năng trung gian thanh toán: NHTM có vai trò như thủ quỹ cho các tổ chức DN hoặc cá nhân, thực hiện các yêu cầu thanh toán của khách hàng như thanh toán hàng hóa trích từ tài khoản tiền gửi của khách hàng hay nạp tiền vào tài khoản từ tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo yêu cầu. Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Chức năng này đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, góp phần phát triển kinh tế. - Chức năng tạo phương tiện thanh toán: Chức năng này mang tính đặc trưng là thực hiện chức năng tạo tiền trên thị trường dựa vào nền tảng hai chức năng trên.
Khách hàng sử dụng số tiền mà NHTM cho vay để mua sắm hàng hóa và thanh toán dịch vụ. Với chức năng này, ngân hàng thương mại đã tăng tổng phương tiện thanh toán trên thị trường kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán của đại bộ phận dân cư. Khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn, NHTW có thể tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Các NHTM sẽ phải phụ thuộc vào tỷ lệ này để thực hiện chức năng tạo tiền.
Các nghiệp vụ chính của ngân hàng thương mại Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại bao gồm 3 nghiệp vụ chủ yếu sau: a. Nghiệp vụ huy động nguồn vốn: 9 “ Đây được coi là hoạt động quan trọng nhất của NHTM. Ngân hàng thực hiện huy động vốn thông qua nhiều kênh khác nhau, ví dụ như cho vay, phát hành các loại cổ phiếu và các giấy tờ khác. Cùng với đó, trên nền tảng nguồn vốn trên, NHTM tiến hành thực hiện cho vay theo nhu cầu phát triển sản xuất của doanh nghiệp và các mục tiêu phát triển của các vùng miền.
Vì vậy, các ngân hàng phải dựa theo mục tiêu và chiến lược phát triển chung để phát triển những hình thức huy động vốn thích hợp, ưu tiên các nguồn vốn có tính chất lâu bền, có thể đáp ứng được nhu cầu vốn cho phát triển đất nước và khu vực. Nghiệp vụ sử dụng vốn: “ Nghiệp vụ này đem lại lợi nhuận trực tiếp cho NHTM. Nó có hiệu quả sẽ dẫn đến uy tín của NHTM được nâng cao, góp phần quyết định khả năng cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế. Chính vì thế, các NHTM phải tìm hiểu kĩ lưỡng và tìm ra kế họach phát triển và công cụ cạnh tranh của riêng mình sao cho khả thi nhất.
Một là, NHTM thực hiện hoạt động cho vay, chủ yếu là các hoạt động tín dụng từ chính sách cho vay của NHTM. Cho vay được phân loại theo kỳ hạn, nguồn gốc, hình thức đảm bảo, … Hai là, NHTM tiến hành đầu tư. Các NHTM đầu tư theo 2 hình thức chính, bao gồm góp vốn vào các DN, các công ty khác hoặc mua bán trên thị trường chứng khoán, và đầu tư vào TSCĐ phục vụ cho hoạt động của NHTM. Ba là, NHTM thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ.
Do Chính phủ và NHNN đã quy định về dự trữ bắt buộc của các NHTM nên ngân hàng phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo tính an toàn về khả năng thanh toán của mình. Nghiệp vụ trung gian: NHTM đóng vai trò trung gian giúp các khách hàng của mình chi trả cho các hàng hoá, dịch vụ một cách tiết kiệm, nhanh chóng và thuận tiện. Nghiệp vụ này bao gồm hình thức phổ thông như các loại thẻ, séc,. Ngoài ra, các ngân hàng còn làm trung gian phát hành chứng khoán cho các doanh nghiệp và thực hiện các ủy thác như cho vay, đầu tư, giải ngân,… 10 2.
Lí luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh được dùng cho mục đích đánh giá, so sánh tất cả các doanh nghiệp khác nhau tùy theo từng góc độ đánh giá. Cạnh tranh hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là sự đấu tranh của các chủ thể tham gia nhằm đạt được ưu thế về phía mình. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã nêu ra “khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Xét riêng trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ thì cạnh tranh được xem sự đấu tranh giữa các chủ thể tham gia thị trường với nhau do cung ứng các SP, DV gần giống nhau. Do vậy, NHTM cần thông qua chiến lược và các giải pháp khác nhau để đạt được ưu thế về các mặt như thị phần hay doanh thu, lợi nhuận,… Tóm lại, “cạnh tranh trong các ngân hàng là việc các NHTM huy động tối đa các nguồn lực, phát huy lợi thế hiện có và sử dụng những phương pháp tối ưu nhất của mình để vượt lên các NHTM khác, khẳng định vị trí của mình trên trong nền kinh tế thị trường”. Khi tìm hiểu về cạnh tranh, khái niệm năng lực cạnh tranh ra đời đầu tiên bởi Aldington Report như sau: “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”.
Tính cho đến thời điểm hiện nay, nghiên cứu đầy đủ và toàn diện nhất về NLCT là nghiên cứu của Michael Porter. Học thuyết chỉ ra rằng “một doanh nghiệp được gọi là có năng lực cạnh tranh còn phải là doanh nghiệp có khả năng duy trì và liên tục tăng cường khả năng cạnh tranh của mình” và “để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hoá sản phẩm để đạt được những mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày 11 càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp nhũng hàng hoá hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn”. Tổng hợp các khái niệm về năng lực cạnh tranh và các đặc thù hoạt động trong NHTM, tác giả xin rút ra định nghĩa sau: “ Năng lực cạnh tranh của NHTM là tất cả các sức mạnh của NHTM đáp ứng tốt nhất yêu cầu của khách hàng về cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phong phú đa dạng và có sự khác biệt với cùng loại trên thị trường, tạo ra lợi thế, tăng lợi nhuận hàng năm, khẳng định uy tín, thương hiệu và vị thế trên thị trường của NHTM”.
Đặc điểm của cạnh tranh tại ngân hàng thương mại “ Cạnh tranh có thể coi là yếu tố quan trọng để tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh cũng như tăng hiệu quả, năng suất lao động của các doanh nghiệp. Kết quả cạnh tranh sẽ quyết định đến vị trí và sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp.