Luận văn thạc sĩ ueb nâng cao năng lực cạnh tranh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam chi nhánh ninh giang tỉnh hải dương

Luận văn thạc sĩ phân tích nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tại Ninh Giang, Hải Dương.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

116
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM KẾT

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại

1.2. Khái quát về năng lực cạnh tranh

1.3. Năng lực cạnh tranh của NHTM

1.4. Các tiêu chí đánh giá về năng lực cạnh tranh của NHTM

1.4.1. Nguồn lực tài chính

1.4.2. Sản phẩm, dịch vụ

1.4.3. Chất lượng nguồn nhân lực

1.4.4. Thị phần, thương hiệu của mỗi NHTM

1.4.5. Chiến lược kinh doanh

1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM

1.5.1. Những nhân tố môi trường vĩ mô

1.5.2. Yếu tố môi trường ngành và ảnh hưởng của nó đến năng lực cạnh tranh của NHTM

1.5.3. Nhân tố môi trường quốc tế

1.5.4. Môi trường nội bộ các Ngân hàng thương mại

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH NHTM

2.1. Thu thập dữ liệu

2.1.1. Số liệu thứ cấp

2.1.2. Số liệu sơ cấp

2.2. Phương pháp phân tích

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH HUYỆN NINH GIANG HẢI DƯƠNG

3.1. Khái quát về Agribank chi nhánh huyện Ninh Giang Hải Dương

3.2. Quá trình hình thành và phát triển của Agribank chi nhánh huyện Ninh Giang Hải Dương

3.3. Cơ cấu tổ chức

3.4. Tình hình hoạt động kinh doanh của Agribank Ninh Giang

3.5. Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Agribank Ninh Giang

3.5.1. Năng lực tài chính của Agribank Ninh Giang

3.5.2. Thực trạng năng lực kinh doanh của Agribank Ninh Giang

3.5.3. Thực trạng về năng lực công nghệ ngân hàng

3.5.4. Thực trạng về tổ chức bộ máy và năng lực điều hành

3.5.5. Đánh giá năng lực cạnh tranh của Agribank Ninh Giang

3.6. Thách thức

3.7. Thực trạng về tác động năng lực cạnh tranh trong môi trường nội bộ của hệ thống Agribank đối với các chi nhánh

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRIBANK NINH GIANG

4.1. Định hướng phát triển của Agribank Ninh Giang đến năm 2020

4.2. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank Ninh Giang

4.2.1. Tăng cường năng lực tài chính của Agribank Ninh Giang

4.2.2. Tăng cường năng lực hoạt động của Agribank Ninh Giang

4.2.3. Giải pháp tăng cường năng lực quản trị điều hành

4.3. Kiến nghị đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước

4.4. Kiến nghị đối với Agribank Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực cạnh tranh của Agribank Ninh Giang

Năng lực cạnh tranh của Agribank Ninh Giang là yếu tố quyết định trong bối cảnh thị trường tài chính ngày càng khốc liệt. Agribank Ninh Giang, với vai trò là chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cần phải nắm bắt và phát triển các chiến lược cạnh tranh hiệu quả. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ giúp Agribank Ninh Giang duy trì vị thế mà còn mở rộng thị phần trong khu vực.

1.1. Định nghĩa năng lực cạnh tranh trong ngành ngân hàng

Năng lực cạnh tranh trong ngành ngân hàng được hiểu là khả năng của ngân hàng trong việc cung cấp dịch vụ tài chính tốt hơn so với các đối thủ. Điều này bao gồm chất lượng dịch vụ, lãi suất cạnh tranh và sự hài lòng của khách hàng.

1.2. Vai trò của Agribank Ninh Giang trong hệ thống ngân hàng

Agribank Ninh Giang đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ tài chính cho nông dân và doanh nghiệp nhỏ. Sự hiện diện của ngân hàng giúp thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và hỗ trợ các dự án nông nghiệp.

II. Thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank Ninh Giang

Agribank Ninh Giang đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Sự gia tăng của các ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tín dụng khác đã tạo ra áp lực lớn. Để tồn tại và phát triển, Agribank Ninh Giang cần phải cải cách và đổi mới.

2.1. Cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài

Các ngân hàng nước ngoài thường có nguồn lực tài chính mạnh mẽ và công nghệ tiên tiến, điều này tạo ra áp lực lớn cho Agribank Ninh Giang trong việc thu hút khách hàng.

2.2. Thách thức từ sự thay đổi nhu cầu khách hàng

Khách hàng ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng dịch vụ và sản phẩm. Agribank Ninh Giang cần phải nắm bắt xu hướng này để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

III. Phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank Ninh Giang

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, Agribank Ninh Giang cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Việc cải cách quy trình làm việc và đầu tư vào công nghệ là rất cần thiết.

3.1. Đầu tư vào công nghệ ngân hàng hiện đại

Công nghệ ngân hàng hiện đại giúp cải thiện hiệu suất làm việc và nâng cao trải nghiệm khách hàng. Agribank Ninh Giang cần đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin để tối ưu hóa quy trình.

3.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Đội ngũ nhân viên là tài sản quý giá của ngân hàng. Việc đào tạo và phát triển kỹ năng cho nhân viên sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Agribank Ninh Giang

Nghiên cứu thực tiễn tại Agribank Ninh Giang cho thấy rằng việc áp dụng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đã mang lại kết quả tích cực. Sự cải thiện trong dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng đã được ghi nhận.

4.1. Kết quả từ việc cải cách quy trình làm việc

Cải cách quy trình làm việc đã giúp giảm thời gian xử lý giao dịch, từ đó nâng cao sự hài lòng của khách hàng và tăng cường lòng trung thành.

4.2. Tác động của công nghệ đến hiệu quả kinh doanh

Việc áp dụng công nghệ mới đã giúp Agribank Ninh Giang tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị phần trong khu vực.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho Agribank Ninh Giang

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh là điều cần thiết cho sự phát triển bền vững của Agribank Ninh Giang. Định hướng tương lai cần tập trung vào đổi mới và cải cách để đáp ứng nhu cầu thị trường.

5.1. Định hướng phát triển đến năm 2025

Agribank Ninh Giang cần xây dựng chiến lược phát triển dài hạn, tập trung vào việc mở rộng dịch vụ và nâng cao chất lượng sản phẩm.

5.2. Khuyến nghị cho chính phủ và Ngân hàng Nhà nước

Cần có các chính sách hỗ trợ cho các ngân hàng trong nước, đặc biệt là trong việc cải cách và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb nâng cao năng lực cạnh tranh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam chi nhánh ninh giang tỉnh hải dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Những vấn đề lý luận chung về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại. Phương pháp nghiên cứu. Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của Agribank chi nhánh Ninh Giang tỉnh Hải Dương.

Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank chi nhánh Ninh Giang tỉnh Hải Dương. 4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái quát về năng lực cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia.

Thông qua hoạt động cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ nhằm tăng năng xuất lao động, giảm chi phí sản xuất, cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm/dịch vụ, từ đó, duy trì và phát triển thị phần của mình trên thị trường. Chính vì vậy, nghiên cứu về “cạnh tranh” đã được các nhà kinh tế nghiên cứu từ rất sớm với các các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại. Theo Bách khoa toàn thư mở, thì thuật ngữ cạnh tranh kinh tế được nhà kinh tế học người Anh là Adam Smith đưa ra [20]. Khi bàn về vai trò của “bàn tay vô hình”, Adam Smith, mà kinh tế chính trị cổ điển người Anh, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của cạnh tranh và cạnh tranh được coi là điều kiện quan trọng cho sự tự do về kinh tế.

Theo Adam Smith, cạnh tranh sẽ làm cho giá cả được duy trì ở mức tự nhiên và giá cả cạnh tranh là mức giá cả thấp nhất mà các nhà sản xuất có thể tiếp tục sản xuất. Trong khi cạnh tranh giữa người mua làm cho giá tăng thì cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá giảm [19, tr5]. Nói cánh khác, cạnh tranh là động lực để các nhà sản xuất sản phẩm với mức chi phí hợp lý và một mức giá được người tiêu dùng chấp nhận. Tiếp tục quan điểm này K.Marx trong bộ Tư bản cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch” [14, tr8] Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh chuyển từ quan điểm đối kháng sang cạnh tranh trên cơ sở hợp tác, không phải là khi nào cũng đồng nghĩa với việc tiêu diệt lẫn nhau, triệt hạ nhau.

Trên thực tế, các thủ pháp cạnh tranh hiện đại dựa trên 5 cơ sở cạnh tranh bằng chất lượng, mẫu mã, giá cả và các dịch vụ hỗ trợ. Bởi lẽ, khi mà các đối thủ cạnh tranh quá nhiều thì việc tiêu diệt các đối thủ khác là vấn đề không đơn giản. Chính vì vậy, trong nền kinh tế thị trường, theo trang web Bách khoa toàn thư mở thì: Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẽ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp.

Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành…Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi giá cả (Khuyến mãi, quảng cáo) hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế [20]. Mặc dù có sự khác nhau về thuật ngữ nhưng các định nghĩa về cạnh tranh kinh tế nêu trên đều thể hiện được những nội dung đồng nhất, đó là:  Mục đích của cạnh tranh là giành phần thắng trên thương trường.  Công cụ (phương tiện) sử dụng mang tính đặc thù.  Môi trường diễn ra cạnh tranh là cụ thể và đồng nhất.

Từ cách nhìn như trên, tác giả cho rằng cạnh tranh trong kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể, bằng các công cụ đặc thù để giành các điều kiện sản xuất kinh doanh có lợi nhất, nhằm chiếm lĩnh thị phần tuyệt đối với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Như vậy, để cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp, chủ thể kinh tế phải không ngừng nâng cao năng lực của mình, phấn đấu vươn lên để giành lấy vị trí hàng đầu trong lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa 6 học - kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất. Cạnh tranh chính là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu cho sự phát triển kinh tế của mỗi mỗi quốc gia, mọi nền kinh tế và các chủ thể của các nền kinh tế đó. Để cạnh tranh thành công, cá nhân, tổ chức kinh tế phải có năng lực cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh với các tổ chức, cá nhân khác.

Vậy, năng lực cạnh tranh cụ thể là gì? Theo Stéphane Garelli [18, tr1], năng lực cạnh tranh là một khái niệm có nhiểu khía cạnh để xem xét, tuy nhiên có thể đánh giá năng lực cạnh tranh trên 4 khía cạnh sau: - Hiệu quả (efficiency): năng lực cạnh tranh tốt có nghĩa hoạt động tốt hơn người khác. Năng suất là nhân tố nền tảng của hiệu quả. Tuy nhiên, hiệu quả không có nghĩa là cạnh tranh tốt hơn nên “sẽ chẳn có ý ngĩa gì nếu bạn hiệu quả trong những công việc không cần thiết. - Sự lựa chọn (Choice): năng lực cạnh tranh tốt thể hiện ở chiến lược lựa chọn những lĩnh vực sẽ mang lại giá trị gia tăng.

Một quốc gia (hay tổ chức/cá nhân) không chỉ quan tâm đến hoạt động mình có thể làm mà phải nên quan tâm cả đến mình nên làm gì. Việc có nhiều cơ hội cũng sẽ làm cho khả năng lựa chọn khó khăn hơn. Không một ai có thể làm mọi thứ. Lựa chọn trong năng lực cạnh tranh là lựa chọn được những thứ mang lại giá trị gia tăng tiềm năng lớn hơn đối thủ.

- Nguồn lực (Resources): năng lực cạnh tranh bao gồm khả năng huy động được nhiều nguồn lực để thực hiện lựa chọn. - Mục tiêu (objectives): năng lực cạnh tranh không phải là mục tiêu mà là công cụ để cạnh tranh. Tuy nhiên, công cụ này gắn và phụ thuộc vào mục tiêu quốc gia, doanh nghiệp, cá nhân theo đuổi. Xuất phát từ 4 khía cạnh này, có thể hiểu năng lực cạnh tranh cho biết quốc gia và doanh nghiệp sử dụng các khả năng của mình để đạt được sự thịnh vượng hay lợi nhuận.

Theo Michael Porter, khái niệm có ý nghĩa duy nhất về năng lực cạnh tranh là năng suất (productivity), trong đó năng suất được đo bằng giá trị gia tăng do một 7 đơn vị lao động (hay một đơn vị vốn) tạo ra trong một đơn vị thời gian. Năng suất là nhân tố quyết định quan trọng nhất của mức sống dài hạn và là nguyên nhân sâu xa của thu nhập bình quân đầu người. Để tăng trưởng năng suất bền vững đòi hỏi nền kinh tế phải được liên tục nâng cấp [16, tr2]. Xuất phát từ khái niệm cạnh tranh ta có thể thấy năng lực cạnh tranh (NLCT) được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra.

Năng lực cạnh tranh nói chung được định nghĩa trên ba cấp độ khác nhau, đó là: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ. Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, với nhiều sản phẩm và dịch vụ có lợi thế cạnh tranh trên thị trường. - Năng lực cạnh tranh quốc gia được xác định là năng lực của một nền kinh tế tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư tốt, bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó có được. - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó. Nó dựa vào chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản phẩm dịch vụ đó.

Năng lực cạnh tranh của NHTM 1. Khái niệm Giống như mọi doanh nghiệp, NHTM được coi là một doanh nghiệp đặc biệt, ra đời và tồn tại vì mục tiêu lợi nhuận. Theo Luật tổ chức tín dụng của Việt Nam, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động 8 ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: - Nhận tiền gửi; - Cấp tín dụng; - Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản [13].

Có thể nói, như vậy, cũng như các lĩnh vực khác, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam là việc các NHTM làm cách nào thu hút được nguồn vốn tốt, trên cơ sở đó cung cấp các dịch vụ tín dụng và thanh toán cho nền kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ