Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN: 1.1 Cạnh tranh: Thuật ngữ cạnh tranh được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo tự điển Tiếng Việt thì “Cạnh tranh là tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình”. Trong Tự điển thuật ngữ Kinh tế học, cạnh tranh được định nghĩa là: “Sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên, hay nhiều bên cố giành lấy thứ mà không phải ai cũng có được”.
Ngoài ra, còn có rất nhiều định nghĩa không đồng nhất về cạnh tranh do xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau, liên quan tới nội dung và cấp độ xem xét khác nhau.1 Tuy nhiên, có thể định nghĩa về cạnh tranh một cách chung nhất như sau: Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, liên quan đến sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp. Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua nhau giữa các doanh nghiệp trong việc giành giật một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường hoặc đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể như lợi nhuận, doanh số, thị phần. Phân loại cạnh tranh: Căn cứ vào các chủ thể tham gia trên thị trường, có thể phân cạnh tranh thành ba loại: - Cạnh tranh giữa người mua và người bán: ở hình thức này hai chủ thể tham gia giao dịch để xác định giá cả của hàng hóa cần giao dịch. Hình thức cạnh tranh này rất phổ biến trên tất cả các thị trường sản phẩm, dịch vụ và diễn ra theo quy luật “mua rẻ, bán đắt”, người tiêu dùng luôn mong muốn mua được các sản phẩm, dịch 1 Lược trích luận văn thạc sĩ kinh tế của Châu Văn Hoàng (2009) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 vụ có chất lượng và giá cả hợp lý hay thấp nhất, còn người bán mong muốn bán được sản phẩm của mình ở mức giá cao nhất.
- Cạnh tranh giữa người mua với nhau: đây là hình thức cạnh tranh diễn ra theo quy luật cung cầu. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh giữa người mua với nhau trở nên quyết liệt, nó sẽ là yếu tố làm cho giá cả hàng hóa dịch vụ tăng lên và ngược lại, khi cung lớn hơn cầu thì người mua có lợi vì mua được hàng hóa, dịch vụ với giá rẻ. - Cạnh tranh giữa người bán với nhau: là cuộc cạnh tranh gay go, quyết liệt nhất, quyết định doanh nghiệp nào tồn tại và doanh nghiệp nào sẽ phải rời khỏi thị trường.2 Năng lực cạnh tranh: Năng lực là khả năng của doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn lực để đạt được mục tiêu kinh doanh. Đứng theo góc độ người tiêu dùng thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng đáp ứng yêu cầu lựa chọn của người tiêu dùng ở các mức độ khác nhau, cao hơn trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp đối thủ cũng tạo ra được các sản phẩm có giá trị sử dụng giống hoặc gần giống nhau.
Định nghĩa về năng lực cạnh tranh được nhiều người thừa nhận nhất như sau: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường một cách lâu dài nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp của mình”2. Năng lực cạnh tranh xuất phát từ việc doanh nghiệp sở hữu những nguồn lực mang tính độc đáo, khó bị sao chép và có giá trị, đồng thời doanh nghiệp có khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó. Năng lực cạnh tranh sẽ mạnh nhất nếu doanh nghiệp vừa có nguồn lực độc đáo, khó sao chép về giá trị, vừa có khả năng đặc biệt để khai thác nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng. Nếu doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh dựa vào những 2 Lược trích luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Bách Khoa (2007) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nguồn lực vô hình (như uy tín thương hiệu, nghệ thuật marketing…) và dựa vào yếu tố độc đáo thì lợi thế này có xu hướng lâu bền hơn do đối thủ cạnh tranh khó sao chép hơn.3 Lợi thế cạnh tranh: Về cơ bản, lợi thế cạnh tranh phát sinh từ các giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho người mua, giá trị này phải lớn hơn các chi phí của doanh nghiệp đã phải bỏ ra.
Giá trị là mức mà người mua sẵn lòng thanh toán, và một giá trị cao hơn xuất hiện khi doanh nghiệp chào bán các tiện ích tương đương nhưng với mức giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh; hoặc cung cấp các tiện ích độc đáo và người mua vẫn hài lòng với mức giá cao hơn bình thường. Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là những thế mạnh mà doanh nghiệp có được trong khi đối thủ cạnh tranh không có hoặc doanh nghiệp khai thác tốt hơn, làm tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh. Việc duy trì và tạo dựng lợi thế cạnh tranh so với đối thủ sẽ quyết định rất lớn đến sự thành công của một tổ chức. Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là xây dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững.
Porter, lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được. Do vậy, lợi thế cạnh tranh bền vững là những lợi thế đủ lớn để tạo sự khác biệt, đủ lâu dài trước những biến đổi của môi trường kinh doanh và phản ứng của đối thủ, trội hơn đối thủ trong những thuộc tính kinh doanh có ảnh hưởng đến khách hàng. Theo phân tích của Michael E. Porter, lợi thế cạnh tranh bền vững chỉ có thể đạt được thông qua chi phí thấp hoặc khác biệt hóa.
Ở mức độ cơ bản, doanh nghiệp có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững bằng cách nhận biết và thực hiện những hành động sau đây: nâng cao hiệu quả các hoạt động, nâng cao chất lượng, đổi mới và nâng cao sự thỏa mãn khách hàng. Nâng cao hiệu quả các hoạt động là tạo ra hiệu suất lớn hơn với chi phí thấp hơn dựa vào hiệu suất lao động và vốn. Nâng cao chất lượng là tạo ra những sản phẩm hay dịch vụ tin cậy, an toàn và khác biệt nhằm đem lại những giá trị cao hơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trong nhận thức của khách hàng. Đổi mới là khám phá những phương thức mới và tốt hơn để cạnh tranh trong ngành và thâm nhập vào thị trường.
Còn nâng cao sự thỏa mãn khách hàng là làm tốt hơn đối thủ trong việc nhận biết và đáp ứng các nhu cầu của khách hàng. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, theo Michael E. Porter có ba điều kiện: Thứ nhất, hệ thống cấp bậc của nguồn gốc (tính bền vững và tính bắc chước), những lợi thế cấp thấp hơn như chi phí lao động thấp thì dễ dàng bị bắt chước trong khi những lợi thế cấp cao hơn như độc quyền về công nghệ, danh tiếng thương hiệu, hay đầu tư tích lũy và duy trì các mối quan hệ với khách hàng thì khó có thể bắt chước được. Thứ hai, số lượng của những nguồn gốc khác biệt, càng nhiều thì càng khó bắt chức.
Thứ ba, không ngừng cải tiến và nâng cấp, luôn tạo ra những lợi thế cạnh tranh mới, ít nhất là nhanh hơn đối thủ để thay thế những cái cũ.4 Năng lực cốt lõi: Năng lực cốt lõi là những năng lực mà doanh nghiệp có thể thực hiện tốt hơn những năng lực khác trong nội bộ công ty, năng lực đó mang tính trung tâm đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng lực cốt lõi là sự hợp nhất, gom tụ tất cả công nghệ và chuyên môn của công ty vào thành một trọng điểm, một mũi nhọn nhất quán. Công ty nên xác định và tập trung vào 3 hoặc 4 năng lực cốt lõi. Các năng lực cốt lõi phải khác biệt nhau.2 CÁC CÔNG CỤ CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG: Các công cụ cạnh tranh trên thị trường bao gồm: cạnh tranh về sản phẩm, cạnh tranh về giá, cạnh tranh về kênh phân phối và bán hàng, cạnh tranh về khả năng dự báo thị trường3.
- Cạnh tranh về sản phẩm: thường được thể hiện qua: 3 Lược trích luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Hải Vận (2009) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 + Cạnh tranh về mẫu mã, uy tín sản phẩm: đây là phương thức cạnh tranh mà doanh nghiệp tác động trực tiếp vào trực giác của người tiêu dùng thông qua mẫu mã sản phẩm. Sản phẩm đã có mặt trên thị trường lâu, được nhiều người tiêu dùng quen mắt và yêu thích sẽ có ưu thế hơn các sản phẩm mới cùng loại. + Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm: Bất cứ sản phẩm nào cũng trải qua vòng đời sản phẩm: thâm nhập, tăng trưởng, bảo hòa, suy thoái. Khi sản phẩm đang ở giai đoạn tăng trưởng, có lợi thế cạnh tranh cao, sẽ là sản phẩm chủ chốt của công ty, được củng cố và tăng cường tiêu thụ.
Khi sản phẩm đã lỗi thời trong giai đoạn bảo hòa, lợi thế cạnh tranh kém cần phải quyết định dừng cung cấp. + Cạnh tranh về tính năng của sản phẩm: Đây là công cụ hữu hiệu để cạnh tranh. Sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, nhiều tính năng vượt trội thì sẽ có nhiều lợi thế cạnh tranh và được khách hàng lựa chọn. + Cạnh tranh về chất lượng: Thông thường, sản phẩm có chất lượng tốt sẽ được định giá cao và ngược lại.
Đối với dịch vụ, chất lượng thường được sử dụng như là một công cụ để cung cấp cho khách hàng nhiều lựa chọn theo giá cả nhất định. - Cạnh tranh về giá: Mức giá có vai trò rất quan trọng trong cạnh tranh. Nếu như chênh lệch về giá giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng sản phẩm thì doanh nghiệp đã đem lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh. Vì lẽ đó sản phẩm của doanh nghiệp sẽ ngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng, cũng có nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp có vị trí cạnh tranh ngày càng cao.