Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hoài (Lớp K15 – ĐHSP Ngữ Văn, Khoa Khoa học Xã hội, Trường Đại học Hồng Đức) dưới sự hướng dẫn của PGS. Lê Thị Phượng tập trung vào việc ứng dụng phương pháp dạy học tích cực trong môn Ngữ văn cấp Trung học phổ thông (THPT). Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu được tác giả trình bày cụ thể qua các khía cạnh:

  • Lý do chọn đề tài:
    • Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học: Hoạt động giáo dục đang chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình truyền thụ một chiều, lấy giáo viên làm trung tâm sang mô hình lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo. Tác giả dẫn chiếu Điều 28.2 Luật Giáo dục 2005 quy định: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh". Mục tiêu dạy học hiện đại chuyển từ việc cung cấp thông tin sang rèn luyện năng lực tự tìm kiếm và chiếm lĩnh tri thức.
    • Thực tiễn dạy học bộ môn Ngữ văn: Ngữ văn là môn học mang tính khoa học - nghệ thuật, đòi hỏi sự hứng thú và phát huy tính tích cực của học sinh. Chương trình và sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn THPT hiện hành đã đổi mới theo hướng tích hợp, phân chia kiểu văn bản theo phương thức biểu đạt và các thao tác lập luận (TTLL) thay vì các thao tác tư duy đơn lẻ như trước đây, tạo điều kiện thuận lợi để đưa các kỹ thuật dạy học mới vào nhà trường.
    • Vai trò của kỹ thuật mảnh ghép trong dạy học văn nghị luận: Phân môn Làm văn nói chung và thể loại văn nghị luận nói riêng đòi hỏi cao về năng lực tư duy logic và kỹ năng lập luận. Kỹ thuật mảnh ghép là công cụ dạy học hợp tác giúp phân hóa nhiệm vụ, phát huy vai trò cá nhân kết hợp làm việc nhóm, từ đó nâng cao kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề và năng lực tạo lập văn bản của học sinh.
  • Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các biện pháp và quy trình sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11, THPT nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Làm văn.
  • Giả thiết nghiên cứu: Nếu sử dụng hợp lý, khoa học kỹ thuật mảnh ghép để tổ chức các hoạt động dạy học trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng xây dựng lập luận thì sẽ nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức và kỹ năng tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11.
  • Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nội dung giới hạn ở các tiết thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận văn nghị luận trong chương trình SGK Ngữ văn 11 THPT (Chương trình chuẩn).
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (theo văn bản):
    1. Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận cho học sinh lớp 11.
    2. Điều tra thực trạng về tình hình sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong dạy học phân môn Làm văn và văn nghị luận tại trường THPT.
    3. Xây dựng biện pháp, quy trình sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận cho học sinh lớp 11.
    4. Soạn thảo hệ thống giáo án thực nghiệm có sử dụng kỹ thuật mảnh ghép.
    5. Tiến hành thực nghiệm sư phạm, lấy ý kiến đánh giá và phân tích kết quả bài học để kiểm chứng giả thiết nghiên cứu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận dạy học hiện đại và lý thuyết văn bản nghị luận:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Kỹ thuật dạy học tích cực: Là các biện pháp, cách thức hành động cụ thể của giáo viên và học sinh trong từng tình huống nhằm giải quyết một nhiệm vụ học tập nhất định; là đơn vị nhỏ nhất cấu thành phương pháp dạy học.
    • Kỹ thuật mảnh ghép: Là kỹ thuật tổ chức dạy học hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp. Cơ chế vận hành gồm 2 giai đoạn:
      • Vòng 1 (Nhóm chuyên gia): Lớp học chia thành các nhóm (3–8 học sinh). Mỗi nhóm nhận một chủ đề/nhiệm vụ riêng biệt, cá nhân làm việc độc lập sau đó thảo luận chung để đảm bảo mọi thành viên đều nắm vững và trở thành "chuyên gia" về chủ đề đó.
      • Vòng 2 (Nhóm mảnh ghép): Thành lập các nhóm mới (3–6 học sinh) bằng cách ghép các đại diện đến từ từng nhóm chuyên gia. Các thành viên lần lượt chia sẻ lại nội dung ở Vòng 1, sau đó phối hợp giải quyết một nhiệm vụ mới mang tính tổng hợp, khái quát.
    • Văn nghị luận và cấu trúc lập luận: Tác giả dựa vào định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ Văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, 1999) để xác định đặc trưng của văn nghị luận là tính chất luận thuyết, thuyết phục người đọc bằng lý lẽ và dẫn chứng. Cấu trúc một lập luận hoàn chỉnh gồm: Luận điểm (ý kiến xác đáng của người viết), Luận cứ (lý lẽ và dẫn chứng minh chứng cho luận điểm), và Luận chứng (sự phối hợp, tổ chức lý lẽ và dẫn chứng theo các phương thức như diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, nêu phản đề, so sánh tương đồng/tương phản, phân tích nhân quả, vấn đáp).
    • Tài liệu tham khảo nền tảng: Các nghiên cứu về kỹ thuật mảnh ghép của Trần Thị Dung (dantri.vn); Phạm Thị Bình, Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Ngát (ĐH Sư phạm Hà Nội); luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thanh Tỵ (ĐH Sư phạm Thái Nguyên, 2012).
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu về lý luận dạy học, kỹ thuật dạy học tích cực, lý luận văn học và chương trình SGK Ngữ văn THPT.
    • Phương pháp điều tra thực tiễn: Sử dụng phiếu điều tra, dự giờ, phỏng vấn và trao đổi trực tiếp với giáo viên Ngữ văn tại trường THPT nhằm thu thập dữ liệu về thực trạng sử dụng phương pháp dạy học.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án thực nghiệm, tổ chức dạy học đối sánh giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để thu thập dữ liệu định tính và định lượng.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu điều tra khảo sát thực trạng giảng dạy tại các trường THPT và dữ liệu thực nghiệm sư phạm thu thập trực tiếp tại Trường THPT Hậu Lộc I (huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa) trên học sinh hai lớp 11A2 và 11A7.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Cơ sở khoa học của việc sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận cho học sinh lớp 11

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và khảo sát bức tranh thực tế về dạy học văn nghị luận tại trường THPT:

  • Lý luận về kỹ thuật mảnh ghép: Làm rõ khái niệm, đặc điểm, quy trình 2 vòng và vai trò của kỹ thuật trong việc kích thích tư duy độc lập, tinh thần trách nhiệm cá nhân và kỹ năng giao tiếp hợp tác.
  • Đặc trưng văn nghị luận và chương trình lớp 11: Phân tích sự chuyển biến trong quan điểm đưa văn nghị luận vào nhà trường từ các tác phẩm trung đại (Sông núi nước Nam, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Chiếu dời đô) đến các văn bản hiện đại (Tuyên ngôn Độc lập, Một thời đại trong thi ca, Tiếng nói của văn nghệ, Bàn về đọc sách...). Phân loại văn nghị luận thành hai nhánh chính: Nghị luận xã hội (tư tưởng đạo lý, hiện tượng đời sống) và Nghị luận văn học (tác phẩm, đoạn trích, nhân vật, ý kiến văn học). Xác định vị trí của hệ thống bài rèn luyện thao tác lập luận trong SGK Ngữ văn 11:
    • Bài Luyện tập thao tác lập luận phân tích
    • Bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh
    • Bài Luyện tập vận dụng thao tác lập luận phân tích và so sánh
    • Bài Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ
    • Bài Luyện tập thao tác lập luận bình luận
  • Thực trạng sử dụng kỹ thuật mảnh ghép:
    • Về phương pháp: Giáo viên chủ yếu dùng phương pháp vấn đáp kết hợp trực quan (bảng phụ, máy chiếu) nhưng chỉ mang tính chất minh họa lời giảng, chưa khai thác như một nguồn tri thức kích thích tư duy học sinh.
    • Mức độ sử dụng: Tần suất ứng dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rất thấp hoặc hầu như không được sử dụng; giáo viên duy trì lối dạy thuyết trình truyền thống. Khi triển khai thử nghiệm, học sinh hào hứng nhưng lớp học dễ ồn ào khi chuyển vòng, một bộ phận học sinh còn thụ động.
    • Nguyên nhân:
      • Chủ quan: Giáo viên ngại đầu tư chuyên môn, sợ mất thời gian, sợ mất trật tự lớp học và chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về kỹ thuật dạy học tích cực.
      • Khách quan: Học sinh quen học thuộc lòng theo SGK, thiếu tính tự giác; nhiều học sinh tập trung học các môn khối A, khối B nên có tâm lý xem nhẹ hoặc ngại học môn Ngữ văn.

CHƯƠNG 2: Biện pháp, quy trình sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận cho HS lớp 11, THPT

Chương 2 là trọng tâm giải pháp của khóa luận, thiết lập quy trình chuẩn hóa và thiết kế bài dạy minh họa:

  • Quy trình 3 bước sử dụng kỹ thuật mảnh ghép:
    • Bước 1: Xác định mục tiêu bài học: Xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng lập luận và thái độ cần đạt của học sinh trong tiết thực hành cụ thể.
    • Bước 2: Xác định các hoạt động dạy học: Phân chia bài học thành các đơn vị kiến thức chủ chốt; chuẩn bị phương tiện dạy học, hệ thống phiếu học tập (phân biệt bằng màu sắc hoặc ký hiệu số/chữ cái); chuẩn bị kịch bản chia nhóm và di chuyển luân phiên.
    • Bước 3: Áp dụng kỹ thuật mảnh ghép:
      • Vòng 1 (Nhóm chuyên sâu): Chia lớp thành các nhóm (4–8 học sinh), mỗi nhóm nghiên cứu một nội dung kiến thức độc lập nhưng liên quan mật thiết.
      • Vòng 2 (Nhóm mảnh ghép): Tái cấu trúc thành các nhóm mới gồm đủ đại diện từ các nhóm chuyên sâu; học sinh truyền đạt lại tri thức vòng 1, sau đó thực hiện nhiệm vụ tổng hợp cấp độ cao hơn (lập dàn ý, viết đoạn văn).
  • Thiết kế minh họa cho 2 bài học thực hành cụ thể:
    • Tiết "Luyện tập thao tác lập luận phân tích":
      • Bài tập 1 (Phân tích thái độ tự ti và tự phụ):
        • Vòng 1 (3 nhóm chuyên sâu): Nhóm 1 giải thích khái niệm tự ti, tự phụ và phân biệt với khiêm tốn, tự tin; Nhóm 2 tìm biểu hiện của tự ti và tự phụ; Nhóm 3 chỉ ra tác hại và liên hệ bản thân.
        • Vòng 2 (3 nhóm mảnh ghép): Chia sẻ kết quả, xác định luận cứ để lập dàn ý chung và thực hành viết thành các đoạn văn phân tích hoàn chỉnh (kèm bài văn mẫu đối chiếu).
      • Bài tập 2: Phân tích hình ảnh sĩ tử và quan trường qua 2 câu thơ trong bài thơ của Trần Tế Xương ("Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ / Ậm ọe quan trường miệng thét loa").
    • Tiết "Luyện tập thao tác lập luận bình luận":
      • Bài tập 1 (Tham gia diễn đàn Đoàn Thanh niên với đề tài "Lời ăn tiếng nói của học sinh văn minh, thanh lịch"):
        • Vòng 1 (Nhóm chuyên sâu): Phân tích kiểu bài, giải thích lý do cần viết bài văn nghị luận, lựa chọn nội dung bình luận (biết nói lời "cảm ơn" và "xin lỗi").
        • Vòng 2 (Nhóm mảnh ghép): Xây dựng luận điểm chính và lập dàn ý; phân công tìm luận cứ cho 3 khía cạnh: Biểu hiện chuẩn mực (Nhóm 1), Thói hư tật xấu/nói tục chửi thề (Nhóm 2), Hướng rèn luyện hoàn thiện ngôn ngữ (Nhóm 3).
      • Bài tập mở rộng (Bình luận hiện tượng "Bảo vệ môi trường - Vứt rác bừa bãi ra đường, ở nơi công cộng"): Phân công phiếu học tập 3 nhóm về biểu hiện, nguyên nhân chủ quan/khách quan và tác hại đối với cảnh quan, du lịch, sức khỏe cộng đồng; tổ chức viết đoạn văn nghị luận hoàn chỉnh.

CHƯƠNG 3: Thực nghiệm sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong văn nghị luận cho HS lớp 11, THPT

Chương 3 trình bày kế hoạch và việc triển khai thực nghiệm sư phạm tại cơ sở giáo dục:

  • Mục đích thực nghiệm: Đánh giá tính khả thi, hiệu quả của quy trình sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong việc nâng cao kỹ năng lập luận văn nghị luận cho học sinh lớp 11.
  • Đối tượng và địa bàn thực nghiệm: Tiến hành trên học sinh hai lớp 11A2 và 11A7 tại Trường THPT Hậu Lộc I, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
  • Cách thức tiến hành: Triển khai giảng dạy bài "Luyện tập thao tác lập luận bình luận" với việc đối sánh giữa mô hình giáo án thực nghiệm (sử dụng kỹ thuật mảnh ghép 2 vòng, phiếu học tập, làm việc nhóm) và giáo án đối chứng (dạy học theo phương pháp truyền thống).

Bảng dưới đây tổng hợp sự khác biệt giữa mô hình giáo án thực nghiệm và giáo án đối chứng được tác giả xây dựng:

Tiêu chí so sánh Giáo án đối chứng (Phương pháp truyền thống) Giáo án thực nghiệm (Kỹ thuật mảnh ghép)
Vai trò của giáo viên Truyền thụ kiến thức một chiều, giảng giải lý thuyết, điều khiển lớp học bằng câu hỏi vấn đáp trực tiếp. Thiết kế nhiệm vụ, tổ chức điều phối các nhóm, quan sát, hướng dẫn học sinh tự chiếm lĩnh tri thức.
Hoạt động của học sinh Nghe giảng, ghi chép thụ động, trả lời cá nhân khi được chỉ định; ít có cơ hội tương tác đồng đẳng. Làm việc cá nhân độc lập $\rightarrow$ thảo luận nhóm chuyên sâu (Vòng 1) $\rightarrow$ chia sẻ và hợp tác giải quyết nhiệm vụ tổng hợp ở nhóm mảnh ghép (Vòng 2).
Công cụ hỗ trợ Bảng phụ, máy chiếu chủ yếu dùng minh họa cho bài giảng của giáo viên. Phiếu học tập phân màu/đánh số theo nhóm chuyên sâu và nhóm mảnh ghép; hệ thống văn bản mẫu.
Kỹ năng hình thành Nhận biết lý thuyết thao tác lập luận ở mức độ tái hiện. Kỹ năng giao tiếp, hợp tác nhóm, tư duy phản biện, lập dàn ý và viết đoạn văn nghị luận hoàn chỉnh.
  • Đánh giá và khó khăn bất cập:
    • Học sinh lớp thực nghiệm nắm vững quy trình lập luận, chủ động tìm luận cứ và hoàn thành đoạn văn tốt hơn lớp đối chứng.
    • Khó khăn thực tế: Quá trình chuyển từ Vòng 1 sang Vòng 2 dễ gây xáo trộn chỗ ngồi, phát sinh tiếng ồn, tốn thời gian nếu giáo viên không điều hành dứt khoát; cơ sở vật chất bàn ghế cố định tại trường THPT gây cản trở việc ghép nhóm linh hoạt.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Khóa luận đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kỹ thuật mảnh ghép và chứng minh sự phù hợp của kỹ thuật này đối với phân môn Làm văn lớp 11.
    • Xây dựng thành công quy trình sư phạm 3 bước chặt chẽ cùng hệ thống phiếu học tập, giáo án chi tiết cho các bài thực hành thao tác lập luận phân tích và bình luận.
    • Kết quả thực nghiệm tại Trường THPT Hậu Lộc I (lớp 11A2 và 11A7) xác nhận việc áp dụng kỹ thuật mảnh ghép giúp học sinh chuyển hóa từ thụ động ghi nhớ sang chủ động xây dựng luận điểm, tìm kiếm luận cứ và viết đoạn văn nghị luận có sức thuyết phục.
  • Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:
    • Đối với giáo viên: Cần chuẩn bị kỹ lưỡng hệ thống phiếu học tập (dùng giấy màu hoặc đánh số để tránh học sinh vào nhầm nhóm ở Vòng 2); quy định thời gian rõ ràng cho từng vòng; bao quát lớp để đôn đốc các học sinh thụ động.
    • Đối với nhà trường: Cần tăng cường tập huấn chuyên môn về kỹ thuật dạy học tích cực; cải thiện điều kiện phòng học để việc sắp xếp bàn ghế theo nhóm được thuận tiện.
  • Đóng góp mới của đề tài:
    • Đề tài đã cụ thể hóa kỹ thuật mảnh ghép vào một phân môn có tính đặc thù cao là Làm văn nghị luận lớp 11, vốn trước đây ít được áp dụng kỹ thuật hợp tác phức hợp.
    • Cung cấp tài liệu tham khảo thực nghiệm với hệ thống giáo án mẫu, phiếu học tập và văn bản mẫu hoàn chỉnh có thể ứng dụng trực tiếp trong giảng dạy thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Phạm vi thực nghiệm chỉ mới được tiến hành trong phạm vi một trường THPT (Trường THPT Hậu Lộc I) trên quy mô hai lớp học (11A2 và 11A7), chưa mở rộng khảo nghiệm trên nhiều địa bàn trường học có điều kiện cơ sở vật chất khác nhau.
    • Khóa luận mới chỉ thiết kế bài dạy chi tiết cho hai thao tác lập luận (phân tích và bình luận), chưa bao quát toàn bộ các thao tác lập luận khác trong chương trình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Tiếp tục mở rộng phạm vi nghiên cứu và thực nghiệm đối với các bài học còn lại trong chương trình Ngữ văn 11 như thao tác lập luận so sánh, bác bỏ và bài tập vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận.
    • Mở rộng ứng dụng quy trình kỹ thuật mảnh ghép sang các khối lớp 10 và lớp 12 trong chương trình THPT.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh