Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Nghiên cứu mà chúng tôi hướng đến trong đề tài đó là tìm ra biện pháp rèn luyện kỹ năng thể hiện những bài “Cô hát cho trẻ nghe” ở hệ CĐSP MN tại trường CĐSP Lạng Sơn. Để những lập luận, phân tích mang tính xác thực và hiệu quả, thì chúng tôi cho rằng cần phải bắt đầu từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan như: khái niệm, thuật ngữ về hát, bài hát; một số kỹ năng hát cơ bản; quá trình dạy học hát; tình hình dạy học những bài “Cô hát cho trẻ nghe” ở trường CĐSP Lạng Sơn. Một số khái niệm, thuật ngữ Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi đã tham khảo, học tập và dựa trên những luận điểm khoa học của các nhà nghiên cứu đi trước để làm rõ một số những khái niệm về: hát, bài hát, một kỹ năng ca hát cơ bản. Hát Khi tiếp cận một số tài liệu, công trình nghiên cứu về vấn đề hát, trong đào tạo diễn viên, đào tạo GV âm nhạc hay dạy học hát trong nhà trường phổ thông… chúng tôi thấy các tác giả đều dùng từ hát đồng nghĩa với ca hát, có thể thấy rõ điều đó trong các tài liệu như: Phương pháp sư phạm thanh nhạc (2001) của Nguyễn Trung Kiên, Sách học thanh nhạc (1997) của Mai Khanh, Hát 1 (2003) của Ngô Thị Nam… Các tác giả cơ bản đều bản thống nhất với quan điểm của Nguyễn Trung Kiên, rằng “ca hát là môn nghệ thuật phối hợp âm nhạc và ngôn ngữ… nghệ thuật ca hát trở thành một phương tiện giáo dục truyền cảm giáo dục tư tưởng, đạo đức, thẩm mĩ và giải trí vô cùng quan trọng [13, tr.
Trong quá trình nghiên cứu các tài liệu, chúng tôi nhận thấy các tác giả khi nói đến hát, ca hát còn dùng cả thuật ngữ thanh nhạc. Theo Lan Hương viết trong cuốn Các thể loại âm nhạc cho rằng: “Thanh nhạc, tức 9 âm nhạc có lời ca, là loại hình lâu đời nhất của nghệ thuật âm nhạc” [9, tr. Như vậy, thanh nhạc là âm nhạc được thể hiện bằng giọng hát của con người. Thanh nhạc còn là danh từ dùng để phân biệt thể loại tác phẩm viết cho giọng hát và nhạc cụ.
Cùng có ý nghĩa là âm nhạc được thể hiện bằng giọng hát của con người, nhưng khi dùng từ hát thì người ta sẽ hiểu ở mức độ quần chúng, phổ thông, còn khi dùng từ thanh nhạc là nói đến đào tạo diễn viên, ca sĩ mang tính chuyên nghiệp. Tuy vậy, qua nghiên cứu các tài liệu giảng dạy thanh nhạc trong các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp, chúng tôi nhận thấy từ hát, ca hát vẫn được các tác giả sử dụng thường xuyên. Điều đó cho thấy rằng, hát, ca hát và thanh nhạc là những thuật ngữ đồng nghĩa, tùy từng trường hợp cụ thể mà các tác giả lựa chọn sử dụng cho phù hợp. Để phù hợp với đối tượng mà đề tài nghiên cứu, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ hát trong đề tài của mình.
Nghệ thuật hát vô cùng phong phú, đa dạng như: hát có lời và hát không có lời ca; hát được biểu diễn bởi một hay nhiều giọng người; có nhạc đệm hoặc không có nhạc đệm; có bè hoặc không có bè. Hoạt động hát là một quá trình gắn bó chặt chẽ giữa người sáng tác (nhạc sĩ), người biểu diễn (nghệ sĩ) và người nghe (thính giả). Mỗi một người hát muốn truyền tải cảm xúc đến người nghe cần phải thông qua các sáng tác của nhạc sĩ, đó là bài hát. Vậy bài hát là gì? 1.
Bài hát Bài hát còn được gọi bằng những danh từ như ca khúc hay tác phẩm thanh nhạc. Về cơ bản, đó là những danh từ đồng nghĩa để chỉ những tác phẩm âm nhạc có phần lời, thường là một giai điệu có cấu trúc hoàn chỉnh được sáng tác cho giọng hát thể hiện. Tuy nhiên, tùy vào từng suy nghĩ, từng chương trình khác nhau hay từng trường hợp cụ thể mà người ta dùng từ bài 10 hát, ca khúc hay tác phẩm thanh nhạc. Để phù hợp với đề tài của mình, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ bài hát trong nội dung nghiên cứu.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu về ca hát, cơ bản họ đều thống nhất như ý kiến của Mai Khanh, rằng “bài hát là sự kết hợp giữa lời và nhạc, nghệ thuật tổng hợp của hai nhân tố văn học và âm nhạc” [12, tr. Như vậy có thể thấy, khác với các tác phẩm viết cho nhạc cụ biểu diễn, bài hát là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm nhạc và ngôn từ, và nếu lời ca từ thơ ca thì mối quan hệ ấy càng gần gũi. Ngoài ra, còn có những bài hát không có lời, như một số bài Vocalize. Đó “là các bài tập có giai điệu, phần đệm hoàn chỉnh, không có lời ca, dùng để luyện tập phát triển giọng hát…” [13, tr.Ravel, Giuseppe Concone… Về cơ bản, Vocalize đóng vai trò giúp người hát bộc lộ được những kỹ thuật hát, để người hát có thể trình bày tác phẩm một cách nghệ thuật và truyền cảm.
Những bài Vocalize đã và đang được nhiều trường nghệ thuật đào tạo thanh nhạc nổi tiếng trên thế giới và các khoa thanh nhạc của một số trường âm nhạc ở Việt Nam áp dụng. Bài hát được phân thành nhiều loại khác nhau: bài hát dân gian và bài hát do các nhạc sĩ chuyên nghiệp sáng tác. Cũng có khi người ta dựa vào nội dung của bài hát mà phân thành bài hát nghi lễ, lao động, chiến đấu; dựa vào cấu trúc hình thức tác phẩm (một đoạn đơn, hai đoạn đơn, ba đoạn đơn, ba đoạn phức…) mà phân thành ca khúc, trường ca; hay “dựa vào nội dung, tính chất thể hiện của phương pháp diễn tả âm nhạc như giai điệu, tiết tấu, nhịp điệu…” [22, tr.119] để phân thành các loại bài hát trữ tình, vui hoạt, hành khúc… Thông qua các bài hát, con người sẽ được bổ sung vốn sống, cung cấp vốn từ vựng và được khơi nguồn cảm xúc. Đặc biệt, đối với trẻ MN, bài hát sẽ “khơi dậy ở trẻ những cảm xúc chân thực với cái đẹp, cái thiện, 11 và nhiều lúc còn có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn với cách truyền đạt thông tin khác” [18, tr.
Để thể hiện được đầy đủ sắc thái tình cảm mà các nhạc sĩ gửi gắm trong bài hát thì người hát cần được học các kỹ năng ca hát cơ bản. Một số kỹ năng hát cơ bản Để đưa ra được khái niệm về kỹ năng hát cơ bản, trước hết cần tìm hiểu kỹ năng cơ bản là gì? 1. Kỹ năng cơ bản Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên), thì “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [23, tr. Còn trong sách Tâm lí học đại cương do Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), đã đưa ra khái niệm “Kỹ năng là động tác mà cơ sở của nó là sự vận dụng thực tế các kiến thức đã tiếp thu được để đạt kết quả trong một hình thức hoạt động cụ thể” [31, tr.
Muốn thực hiện có kết quả một hành động nào đó, con người cần phải có kỹ năng. “Cơ bản” theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, là “cái làm cơ sở cho những cái khác trong toàn bộ hệ thống” [23, tr. Như vậy, chúng ta có thể hiểu, kỹ năng cơ bản là khả năng vận dụng các kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó có hiệu quả. Từ đó cho thấy, kỹ năng hát cơ bản là cơ sở của những kỹ năng hát khác.
Trong cuốn Âm nhạc và phương pháp giáo dục âm nhạc (1993) – Tập II, Nxb GD, giáo trình đào tạo hệ SP MN của nhóm tác giả do Ngô Thị Nam chủ biên, tác giả đã đưa ra những kỹ năng hát cơ bản như: tư thế hát, hơi thở, tổ chức âm thanh, hát chính xác, hát rõ lời…, để giúp giáo sinh có kỹ năng trình bày những bài hát quy định trong chương trình GD Âm nhạc ở trường MN khá đơn giản và phổ cập. Trong cuốn Phương pháp dạy học âm nhạc (2005), Nxb ĐHSP của Hoàng Long – Hoàng Lân cũng dùng kỹ năng hát như vậy. 12 Tuy nhiên trong thực tế đào tạo ca sĩ chuyên nghiệp thì người ta trang bị cho SV những kỹ thuật thanh nhạc. Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “Kỹ thuật là tổng thể nói chung những phương pháp, phương thức sử dụng trong một lĩnh vực” [23, tr.
Như vậy, kỹ thuật thanh nhạc mang tính chuyên nghiệp, nhằm đạt được những yêu cầu cao trong thể hiện bài hát. Các kỹ thuật thanh nhạc được nhắc đến trong các tài liệu như Phương pháp dạy thanh nhạc (2008), Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội của Hồ Mộ La, Sách học thanh nhạc (1997), Nxb Trẻ của Mai Khanh, Phương pháp sư phạm thanh nhạc (2011), Viện Âm nhạc Hà Nội của Nguyễn Trung Kiên,… Trong những nghiên cứu này, các tác giả đề cập đến những kỹ thuật thanh nhạc, cùng những bài tập luyện thanh phức tạp ở mức độ khó, rất khó, để giúp người học thể hiện được những tác phẩm nghệ thuật thanh nhạc ở nhiều phong cách, đa dạng khác nhau. Rõ ràng, việc sử dụng các kỹ thuật thanh nhạc ở hệ đào tạo ca sĩ và các kỹ năng hát cơ bản ở hệ đào tạo GV âm nhạc phổ thông, GV MN là ở hai mức độ rất khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi quan tâm đến các kỹ năng hát cơ bản, cần thiết cho SV CĐSP MN.
Tư thế Trong quá trình được đào tạo, cũng như nghiên cứu tài liệu, chúng tôi đúc rút được rằng, tư thế là một trong những vẻ bề ngoài tác động đến dáng vẻ của con người. Trong ca hát cũng vậy, để có một giọng hát tốt cần có tư thế hát đúng, phù hợp. Các tác giả Mai Khanh, Nguyễn Trung Kiên, Ngô Thị Nam… trong các nghiên cứu của mình đã cho thấy sự đồng nhất quan điểm về tư thế trong ca hát. Họ cho rằng, khi ca hát có thể thực hiện nhiều tư thế: đứng, ngồi hay đi lại, riêng đối với nhạc kịch, còn sử dụng nhiều tư thế hơn nữa.
Đối với mỗi một bài hát có nội dung, đặc điểm, tính chất, thể loại và môi trường biểu diễn khác nhau người hát sẽ lựa chọn tư thế ca hát cho phù hợp. 13 Tư thế đứng hát sẽ giúp cho người hát thoải mái, tự tin, đĩnh đạc. Tư thế này sử dụng phù hợp hầu hết ở các thể loại ca hát. Khi ngồi hát sẽ tạo cho người hát một phong thái gần gũi, cởi mở.