phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 2: Một số biện pháp dạy học phần văn học nƣớc ngoài cho học sinh lớp 11 theo quan điểm sƣ phạm tƣơng tác Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Về quan điểm Sư phạm tương tác SPTT là một quan điểm giáo dục khá mới ở Việt Nam, trong những năm gần đây, nhiều đơn vị triển khai việc phổ biến rộng rãi hơn nữa quan điểm này ở nƣớc ta, đặc biệt mới đây các giảng viên của trƣờng Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã dịch cuốn “Sƣ phạm tƣơng tác, một tiếp cận khoa học thần kinh về học và dạy” của các tác giả Madeleine Roy và Jean- Marc Denommé, cuốn sách này đã đƣợc xuất bản tại Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội vào cuối năm 2009. Với sự ra đời của cuốn sách này, quan điểm SPTT sẽ đƣợc biết đến và đƣợc vận dụng nhiều hơn trong DH để có thể nâng cao chất lƣợng dạy và học ở mọi cấp học, bậc học. Cơ sở khoa học hình thành quan điểm SPTT Quan điểm SPTT có cơ sở khoa học bắt nguồn từ việc hiểu đƣợc bản chất của sự học, bản chất tự nhiên của con ngƣời, dựa trên những thành tựu nghiên cứu của sinh lí học, vật lí, hoá học đặc biệt là dựa trên nghiên cứu của khoa học thần kinh.
Dựa vào khoa học thần kinh nhận thức ở ngƣời với những nghiên cứu về cấu tạo của hệ thần kinh và hoạt động của não bộ từ đó đề xuất ra lý thuyết dạy học mới dựa trên sự tƣơng tác giữa các đối tƣợng mà cụ thể là giữa ngƣời học, ngƣời dạy và môi trƣờng của họ. SPTT đặc biệt quan tâm đến cơ chế hoạt động của hệ thần kinh - Bộ máy học - cơ sở sinh học của hoạt động học và đó cũng là cơ sở của những tác động SP của ngƣời dạy khi điều khiển hoạt động học của ngƣời học. Về bản chất, học tập là một quá trình nhận thức đặc biệt của con ngƣời và đƣợc sự trợ giúp của hệ thống thần kinh bao gồm hệ thần kinh trung ƣơng và hệ thần kinh ngoại biên, hệ thần kinh- bộ máy học đƣợc mô tả nhƣ sau: 6 z 8 giác quan Ngoại biên Nơ-ron = tế bào và phần kéo dài Hệ thống thần kinh Não bò sát Não thú Trung ƣơng Não ngƣời - bán cầu não trái - bán cầu não phải Sơ đồ 1.1: Sơ đồ bộ máy học (Nguồn: Madeleine Roy, Jean-Marc Denommé (2009), Sư phạm tương tác - Một tiếp cận khoa học thần kinh về học và dạy, NXB ĐHQGHN, Hà Nội.) Hệ thống thần kinh của „„bộ máy học„„ có tính năng động rất lớn trong quá trình hoạt động nói chung, trong hoạt động nhận thức nói riêng. “Bộ máy học” có tính năng động trong việc tiếp nhận và xử lý thông tin, chuyển hoá những thông tin đó thành những tri thức hữu ích cho ngƣời học.
Sự năng động của bộ máy học đƣợc thể hiện rất rõ và cụ thể hoá thành sơ đồ nhƣ sau: Kích thích Tri giác, Tiềm năng Động cơ (bên trong và giác quan hành động (limbic) Sự bên ngoài) (luồng thần không đồng kinh) nhất (BCN Sơ đồ 1.2: Sự năng động của bộ máy học phải) Trạng thái thứ 3 7 z Các giác quan đƣợc coi là cửa ngõ tiếp nhận thông tin từ bên ngoài vào. Các giác quan đƣợc phân loại nhƣ sau: Bảng 1.1: phân loại các giác quan Giác quan tồn tại trong Giác quan tồn tại trong một bộ phận cơ thể toàn bộ cơ thể 1. Cảm giác thời tiết 3. Cảm giác về vị trí cơ thể 4.
Thính giác (nghe) 4. Cảm giác đau. (Nguồn: Madeleine Roy, Jean-Marc Denommé (2009), Sư phạm tương tác - Một tiếp cận khoa học thần kinh về học và dạy, NXB ĐHQGHN, Hà Nội.) Theo nghiên cứu của các tác giả quan điểm SPTT, tất cả các giác quan trên đều có khả năng tham gia vào hoạt động học, khi ngƣời học huy động đƣợc càng nhiều giác quan tham gia vào hoạt động học thì các thông tin mà bộ não thu thập đƣợc càng phong phú và chính xác. Các giác quan trở thành các ăng - ten đón nhận các thông tin đến từ trong hoặc ngoài cơ thể con ngƣời.
Cũng chính vì vậy, „„các giác quan trở thành cơ quan nuôi dưỡng trí thông minh và tiên phong cho việc lĩnh hội các kiến thức mới dù với bất kì người học ở độ tuổi nào cũng như ở mức độ nhận thức nào“ [14, tr. Ngƣời học càng sử dụng nhiều giác quan thì càng dễ dàng học tập hơn và có hiệu quả hơn: mỗi giác quan mang đến những thông tin khác nhau; ngƣời học cần sử dụng tất cả các giác quan trong quá trình học. Nhƣ vậy, các giác quan là cổng vào của tri thức có thể mô tả nhƣ các ăng-ten tiếp nhận thông tin dƣới dạng sóng. Sau đó, nhờ các nơron thần kinh, các thông tin này đƣợc chuyển lên não.
Nơron truyền tin, lựa chọn thông tin, chọn lọc thông tin để lƣu giữ , sau đó xử lí thông tin và tái tạo tua nhánh tuỳ theo việc sử dụng các giác quan. Trong quá trình trên hoạt động học của hệ thần kinh ngoại biên chỉ đóng vai trò tiếp nhận và dẫn truyền thông tin còn 8 z việc xử lý thông tin và việc tạo ra kết quả nhƣ thế nào lại phụ thuộc vào hệ thần kinh trung ƣơng với các bộ phận và chức năng khác nhau của bộ não. Bộ não của con ngƣời gồm 3 phần xếp lên nhau đại diện cho 3 thời kỳ phát triển, đó là não nguyên thuỷ, não cổ và não ngƣời (hai bán cầu não). Ngoài ra quan điểm SPTT cũng có cơ sở khoa học từ việc nghiên cứu các năng lực bổ trợ của hệ thần kinh nhƣ vai trò của trí nhớ, ngôn ngữ, sự chú ý đối với việc học tập của ngƣời học.
Trí nhớ có chức năng lƣu giữ và gợi lại các thông tin hoặc dữ liệu đã đƣợc lĩnh hội ở các bậc giác quan, lim-bic, não ngƣời ở cả hai bên bán cầu. Vì trí nhớ độc lập với các cơ quan này của hệ thống thần kinh nên trí nhớ có vai trò quan trọng trong việc tạo ra và lƣu giữ các tri thức mới. Học không có nghĩa là chỉ đối diện với các tri thức, thông tin mới; đó còn là việc huy động tổng thể các tri thức, kiến thức đã đƣợc lƣu giữ trong trí nhớ. Trí nhớ can dự vào tất cả các hoạt động tri thức và nhận biết.
Tóm lại: Những kết quả nghiên cứu của khoa học thần kinh nhận thức chính là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng quan điểm dạy học SPTT. Bộ máy học của con ngƣời là cơ sở của những hoạt động nhận thức. Nội dung của quan điểm Sư phạm tương tác Tƣ tƣởng cốt lõi của quan điểm SPTT là “người học là trung tâm thu hút; người dạy được xem là tác nhân can thiệp chủ yếu bên cạnh người học, trong khi đó môi trường là nhân tố có tác động kích thích hay ngược lại cản trở quá trình học tập và giảng dạy„„ [14, tr. Toàn bộ tƣ tƣởng SPTT đƣợc tập trung gói gọn trong ba câu hỏi lớn, ba câu hỏi căn bản, phác họa nên bức tranh của SPTT, đó là: Người học học như thế nào?Người dạy dạy như thế nào? Và môi trường tác động đến HS trong quá trình học tập và người dạy trong quá trình giảng dạy như thế nào? * Ngƣời học học nhƣ thế nào? Để trả lời cho câu hỏi thứ nhất: „„Ngƣời học học nhƣ thế nào?„„, khoa học thần kinh nhận thức khẳng định rõ ràng rằng hệ thống thần kinh là nơi 9 z đặc quyền cho sự phát triển tri thức và hình thành nên các công cụ cơ bản cho việc học tập.
Cơ chế của việc học ở ngƣời học đƣợc diễn ra nhƣ mô tả ở phần sơ đồ bộ máy học. Các tri thức sẽ tác động vào các giác quan – cửa ngõ tiếp nhận thông tin ở ngƣời học, tiếp đó các nơ-ron thần kinh có nhiệm vụ dẫn truyền các kiến thức đến hệ thần kinh trung ƣơng. Tại đây các thông tin đƣợc truyền lên não bộ, qua vùng não nguyên thuỷ tới vùng não thú (vùng lim-bic). Vùng Lim –bic đƣợc so sánh nhƣ hàng rào đầu tiên ngƣời học bắt buộc phải vƣợt qua để đạt tới kiến thức và tạo nên cửa vào thức hai của thông tin, sau cửa các giác quan.
Những thông tin sau khi đƣợc vùng lim-bic tiếp nhận sẽ truyền tới não ngƣời, vƣợt qua vùng lim-bic, các thông tin đƣợc đón nhận và xử lý ở BCN phải. Tiếp theo, các thông tin đƣợc tích tụ xử lý để tìm mối quan hệ với các trải nghiệm mà BCN phải đã có. BCN trái có nhiệm vụ tổng hợp, gọi tên và miêu tả nội dung các thông tin, các thông tin trở thành cái ổn định, trật tự và ngƣời học đã thật sự lĩnh hội đƣợc kiến thức. Tại giai đoạn xử lý thông tin cuối cùng này, BCN phải đã đạt đến điểm bão hoà trong việc tích luỹ các dữ liệu, đạt tới ngƣỡng quyết định để thiết lập sự cân bằng giữa hai BCN.
Trạng thái đạt ngƣỡng đó là “thao tác” hết sức đặc biệt của não ngƣời, đó là “Trạng thái T”. Đây chính là cơ chế của hoạt động học ở ngƣời học, nó hoàn toàn tuân theo cơ chế hoạt động của hệ thần kinh – bộ máy học. *Ngƣời dạy dạy nhƣ thế nào? Cả việc học của ngƣời học và việc dạy của ngƣời dạy đều có liên quan đến hệ thần kinh – bộ máy học. Nếu nhƣ ngƣời học cần cập nhật bộ máy học của mình, thì ngƣời dạy cần luôn sẵn sàng giúp đỡ ngƣời học để vận hành một cách hiệu quả hệ thống thần kinh vào việc học.
Ngƣời dạy cần luôn tôn trọng cơ chế lĩnh hội tri thức ở HS, luôn tìm cách kích thích các giác quan của ngƣời học, sử dụng các kiến thức đã đƣợc lĩnh hội của ngƣời học, gợi động cơ, đƣa cho họ các thông tin bổ sung để có thể tự mình lĩnh hội tri thức mới. 10 z Trong SPTT, ngƣời dạy đƣợc ví nhƣ ngƣời dẫn đƣờng trong hành trình leo núi dã ngoại, ngƣời dạy thực hiện các hoạt động rất cụ thể bên cạnh ngƣời học trong khi chú ý đến vai trò của hệ thần kinh trong việc học tập.