Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu + Chương 2: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. + Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. - Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Khái niệm và đặc điểm vi phạm hành chính 1.Khái niệm, phân loại vi phạm pháp luật - Khái niệm vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
- Phân loại vi phạm pháp luật Hiện tượng vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng. Có thể phân chia vi phạm pháp luật theo nhiều tiêu chí khác nhau : Theo loại quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ bị xâm hại, thì vi phạm pháp luật phân theo lĩnh vực. Ví dụ: vi phạm pháp luật về tài chính, vi phạm pháp luật về lao động, vi phạm pháp luật về đất đai, vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật dân sự… Theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thì vi phạm pháp luật phân thành vi phạm pháp luật là tội phạm và vi phạm hành chính. Theo tính chất vi phạm và trách nhiệm pháp lý, thì vi phạm pháp luật phân thành Vi phạm pháp luật hình sự (Tội phạm), Vi phạm hành chính, Vi phạm dân sự, Vi phạm kỷ luật nhà nước.
Vi phạm pháp luật là sự kiện pháp lý và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.Khái niệm, đặc điểm và cấu thành của vi phạm hành chính - Khái niệm vi phạm hành chính. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được ban hành năm 1989, 1995, 2002 và Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2011 (có hiệu lực từ ngày 07/07/2012) cho thấy khái niệm vi phạm hành chính đều đã được đề cập trong văn bản này. Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1989 quy định: “ Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân hay tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định pháp luật là phải bị xử lý vi phạm hành chính” [49]. Định nghĩa này sau đó đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đưa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật.
Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì khái niệm vi phạm hành chính không được định nghĩa một cách trực tiếp mà được hiểu một cách gián tiếp qua khái niệm xử lý vi phạm hành chính: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân,cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” [51]. Cho đến nay, cách hiểu về vi phạm hành chính được các nhà khoa học và thực tiễn hiểu một cách khá thống nhất đó là: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và phải bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật”. - Đặc điểm cấu thành vi phạm hành chính. Khái niệm vi phạm hành chính là cơ sở đầu tiên cho việc xác định một vi phạm pháp luật là vi phạm hành chính, đồng thời để phân biệt vi phạm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành chính với các vi phạm khác.
Để xác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay không, cũng như đánh giá được đúng tính chất vi phạm và mức độ xâm hại của hành vi thì việc xem xét các đặc điểm cấu thành vi phạm hành chính là vô cùng quan trọng. Những đặc điểm và yếu tố cấu thành này được mô tả trong các văn bản pháp luật có quy định về vi phạm hành chính, hình thức và biện pháp xử lý đối với loại vi phạm này. Cũng tương tự như bất kỳ loại vi phạm pháp luật nào, các dấu hiệu cấu thành vi phạm hành chính thể hiện ở bốn yếu tố: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể. Mặt khách quan của vi phạm hành chính.
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài của thế giới khách quan của vi phạm hành chính bao gồm: hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, hậu quả thiệt hại của hành vi gây ra cho xã hội, quan hệ nhân quả, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện vi phạm. Cụ thể như sau: Hành vi vi phạm hành chính: Vi phạm hành chính phải là hành vi và chỉ được thực hiện bằng hành vi. Đây là dấu hiệu tiên quyết, buộc phải có. Nếu không có hành vi vi phạm hành chính sẽ không có vi phạm hành chính.
Hành vi của vi phạm hành chính là những biểu hiện của con người hoặc tổ chức tác động vào thế giới khách quan dưới hình thức bên ngoài cụ thể gây tác hại đến sự phát triển bình thường của trật tự quản lý. Hành vi của vi phạm hành chính có thể là hành động hoặc không hành động song đều là biểu hiện của con người ra thế giới khách quan được ý thức kiểm soát và ý chí điều khiển. Sẽ không coi là hành vi vi phạm nếu không phải là kết quả hoạt động của ý thức. Đây chính là mặt khách quan của tính 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xâm hại các quan hệ xã hội của vi phạm hành chính, chúng có ý nghĩa quyết định đến tính trái pháp luật của hành vi vi phạm hành chính.
Vi phạm hành chính là hành vi vi phạm trái pháp luật hành chính. Tính trái phá luật hành chính thể hiện ở chỗ hành vi đó được thực hiện ngược lại với yêu cầu của quy phạm pháp luật. Đó là hành vi xâm hại những quy định pháp luật nói chung được pháp luật hành chính bảo vệ. Cụ thể hơn, đó là hành vi bị pháp luật hành chính cấm, hoặc không thực hiện hay thực hiện không đúng hành vi mà pháp luật hành chính buộc phải thực hiện.
Hậu quả, mối quan hệ nhân quả của hành vi vi phạm hành chính: Mặt khách quan đa phần các cấu thành vi phạm hành chính không bắt buộc phải có dấu hiệu hậu quả thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thiệt hại. Bởi lẽ tính xâm hại của mọi loại vi phạm hành chính chưa đến mức nguy hiểm đáng kể cho xã hội nên hậu quả của chúng rất ít phụ thuộc vào thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra. Thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra chỉ có ý nghĩa trong việc xác định hình thức xử phạt và mức phạt. Hậu quả của vi phạm hành chính là tính xâm hại khách quan của vi phạm hành chính, được thể hiện ở chỗ vi phạm hành chính đã xâm hại hoặc đe dọa xâm hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật quy định thành các quy tắc quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp hậu quả của vi phạm hành chính biểu hiện ở các thiệt hại cụ thể về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, về tự do thân thể của cá nhân hoặc thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tập thể công dân. Giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính có mối quan hệ hữu cơ, trong đó hậu quả vi phạm hành chính có tiền đề xuất hiện của nó là hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính có tiền đề xuất hiện của nó là hành vi khách quan của vi phạm hành chính. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khách thể của vi phạm hành chính Khách thể vi phạm hành chính là các quan hệ xã hội được các quy định về xử lý vi phạm hành chính bảo vệ. Tuy nhiên, dưới góc độ của vi phạm hành chính, trật tự quản lý nhà nước cũng chính là các quan hệ xã hội được luật hành chính bảo vệ.
Có quan điểm cho rằng, khách thể của vi phạm hành chính là trật tự quản lý nhà nước. Nhưng quan điểm như vậy chưa chính xác, ngoài trật tự quản lý nhà nước thì khách thể của vi phạm hành chính còn có thể là các quan hệ xã hội khác. Các quan hệ xã hội bị vi phạm hành chính xâm hại rất đa dạng, đó là: trật tự nhà nước và xã hội, sở hữu nhà nước, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự quản lý. Cho nên khách thể của vi phạm hành chính phải được hiểu là các quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật hành chính bảo vệ.
Chủ thể của vi phạm hành chính Chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Cá nhân, tổ chức chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành chính khi có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính. Cá nhân: Năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính thể hiện khả năng nhận thức của con người đối với hành vi vi phạm. Vì vậy, hai yếu tố để xác định năng lực pháp lý đối với cá nhân là: Đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật và không mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức hành vi.
Cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính chỉ được coi là chủ thể vi phạm hành chính khi có năng lực pháp lý hành chính. Ở đây cũng cần phân biệt giữa chủ thể vi phạm hành chính với đối tượng vi phạm hành chính. Cá nhân chỉ cần có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính được xác định là chủ thể vi phạm hành chính. Còn đối tượng vi phạm hành chính ngoài năng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lực trách nhiệm pháp lý hành chính còn phải thực hiện một hành vi vi phạm hành chính cụ thể và bị xử phạt hành chính.