CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp 1.1 Doanh nghiệp và quản trị rủi ro trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp Doanh nghiệp là thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế học [30]. Doanh nghiệp như một phương tiện để thực hiện ý tưởng kinh doanh. Nhìn từ bên ngoài doanh nghiệp được biểu hiện như là một tòa nhà, những máy móc, một tấm biển hay nhãn hiệu sản phẩm…. tóm lại là tập hợp của những yếu tố rời rạc.Francois Peroux thì: "Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy”[33] Theo Sách “Kinh tế doanh nghiệp” của D.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 định nghĩa: “Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải.
Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được"[33] Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”[36]. Trong đó, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Muốn kinh doanh, các thương nhân (chủ doanh nghiệp) phải chọn lấy cho mình một trong số những loại hình DN mà pháp luật qui định. Cho dù định nghĩa theo cách nào thì có thể thấy đã là một DN nhất thiết phải được cấu thành bởi những yếu tố sau đây: Yếu tố tổ chức: bao gồm một tập hợp các bộ phận được chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính… Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin.
Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra. 13 Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được. Trên góc độ vi mô, DN lại được xem như một hình thức sản xuất theo đó trong cùng một sản nghiệp người ta phối hợp giá của nhiều yếu tố khác nhau do các tác nhân khác cùng với chủ sở hữu doanh nghiệp đem lại nhằm bán ra trên thị trường hàng hóa hay dịch vụ và đạt được một khoản thu nhập tiền tệ từ mức chênh lệch giữa hai giá. Điều này có thể hiểu DN là sự phối hợp của chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư cùng nhau thực hiện các hoạt động sản xuất để phục vụ thị trường và hưởng thành quả từ việc tiêu thụ kết quả sản xuất.
Từ các phân tích trên có thể hiểu DN như sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. Cụ thể: - Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân: Tư cách pháp nhân của DN là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của DN trong nền kinh tế quốc dân, do Nhà nước khẳng định. Tư cách pháp nhân của DN một mặt giúp DN được nhà nước bảo hộ các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác lại yêu cầu DN phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội. Điều này đòi hỏi DN phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể.
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại. Doanh nghiệp là một tổ chức sống bởi nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một DN khác thôn tính. Vì vậy sự tồn tại của DN phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo ra nó. Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó.
DN là một phạm trù lịch sử, xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa. Đầu tiên là các DN đơn giản, qui mô nhỏ dần dần xuất hiện các loại hình DN phức tạp như công ty, tổng công ty,.hoạt động kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau. Có rất nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại các DN như: hình thức sở hữu vốn, qui mô, địa vị pháp lý, loại hình kinh doanh…. • Theo hình thức sở hữu vốn: có 2 loại hình DN là DN một chủ sở hữu và DN nhiều chủ sở hữu.
14 - Doanh nghiệp một chủ sở hữu gồm: + Doanh nghiệp nhà nước (DNNN): DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. DNNN cũng có nhiều loại hình khác nhau tùy theo qui mô kinh doanh, chức năng, nhiệm vụ, mức độ liên kết kinh doanh, mức độ độc lập hoạt động mà có tên gọi khác nhau như: tập đoàn Nhà nước, tổng công ty Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ. + Doanh nghiệp tư nhân: DN tư nhân là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Đây là loại hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân tức là không bị ràng buộc của pháp luật qui định về vốn góp tối thiểu để thành lập DN và nhân sự, vì thế người ta còn gọi DN tư nhân là công ty trách nhiệm vô hạn.
- Doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu (từ 2 người trở lên) gồm công ty và hợp tác xã + Công ty có công ty đối nhân và công ty đối vốn Công ty đối nhân là công ty mà trong đó các thành viên thường quen biết nhau và kết hợp với nhau do tín nhiệm nhau, họ nhân danh mình mà kinh doanh và liên đới chịu trách nhiệm. Do đó không thể chuyển nhượng phần góp tài sản của mình nếu không được sự đồng ý của toàn thể thành viên. Công ty đối nhân có hai loại công ty hợp danh và công ty hợp vốn. Công ty hợp danh là công ty đối nhân trách nhiệm vô hạn; các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty.
Công ty hợp vốn là công ty có 2 loại hội viên không bình đẳng với nhau: hội viên xuất vốn và hội viên quản lý sử dụng vốn. Công ty đối vốn là công ty mà trong đó người tham gia không quan tâm đến mức độ tin cậy của các thành viên khác, họ chỉ quan tâm đến phần vốn góp. Phần vốn góp này có thể chuyển nhượng hoặc đem mua bán trên thị trường chứng khoán. Lãi được chia tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp.
Công ty đối vốn bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): là công ty gồm các thành viên không có qui chế của nhà kinh doanh và các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết những phần vốn góp của họ. Nếu số lượng thành viên của công ty TNHH không quá 11 thành viên thì tự phân công nhau đảm nhận các chức trách quản lý và kiểm soát công ty, nhưng nếu số lượng thành viên từ 12 người trở lên thì phải tiến hành đại hội cổ đông, bầu hội đồng quản trị (HĐQT) và các kiểm soát viên. Công ty cổ phần: là một loại công ty đối vốn trong đó các thành viên (cổ đông) có cổ phiếu và chỉ chịu trách nhiệm đến hết giá trị những cổ phần mà mình 15 có. Số lượng thành viên của công ty cổ phần thường rất đông và không được dưới 7.
Quản lý công ty do hội đồng quản trị và giám đốc điều hành. + Hợp tác xã (HTX): HTX là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, có lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra, theo qui định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và từng xã viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. • Theo qui mô: có nhiều chỉ tiêu để đánh giá qui mô như giá trị tổng sản lượng, tổng số vốn, tổng doanh thu, số lượng lao động, tổng mức lãi một năm. Theo đó doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp có qui mô lớn, doanh nghiệp có qui mô vừa và doanh nghiệp có qui mô nhỏ.
Ví dụ tại Việt Nam, căn cứ khoản 1, điều 3, Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ [11] về định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa: Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ: Doanh nghiệp nhỏ là DN có tổng nguồn vốn dưới 10 tỷ đồng và số lao động từ trên 10 đến 50 người. Doanh nghiệp vừa là DN có tổng nguồn vốn từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng và số lao động từ trên 50 đến 100 người. Hay tại Mỹ, chỉ tiêu chính để đánh giá qui mô doanh nghiệp là mức lợi nhuận hằng năm; nếu mức lợi nhuận hằng năm khoảng 50.