CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tín dụng chính sách Nhằm đáp ứng nhu cầu điều hòa vốn trong xã hội mà có sự xuất hiện của tiền tệ và quan hệ trao đổi hàng hóa, từ đó hoạt động tín dụng cũng xuất hiện. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa, sự xuất hiện sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, xã hội có sự phân hóa giàu, nghèo rõ rệt. Khi người nghèo gặp phải những khó khăn không thể tránh thì buộc họ phải đi vay mà hoạt động cho vay đó là hoạt động cấp tín dụng.
Trong quá trình đổi mới và phát triển cùng với việc thị trường hoá các quan hệ tín dụng, hoạt động ngân hàng và dịch vụ ngân hàng cũng đã từng bước hình thành và phát triển. Theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN ngày 22/5/2014 của Ngân hàng Nhà nước về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [17]. Cùng với xu thế tất yếu của tất cả các quốc gia trên thế giới một số vấn đề xã hội nảy sinh từ vấn đề đô thị hóa là chênh lệch thu nhập, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng. Sự phân hóa này có thể thấy rõ giữa các khu vực thành thị và nông thôn, giữa các nhóm thu nhập trong xã hội, giữa các vùng kinh tế, giữa các địa phương…và như một thử nghiệm ở vùng ngoại ô Thủ đô Đhaca của Bangladesh ông Muhammad Yunus thành lập nên Ngân hàng Grameen khi đó xuất hiện Khái niệm TCVM và Ủy ban Châu Âu cũng nhận định TCVM là một cách để giúp người dân tiếp cận đến cơ hội mới, cải thiện sự tự tin để tham gia vào đời sống xã hội.
Theo Christen et. (2003), tín dụng vi mô là khái niệm tài chính vi mô được dùng theo một nghĩa hẹp hơn. Thuật ngữ tín dụng vi mô nói đến việc cung cấp các món vay nhỏ và không cần thế chấp tài sản cho những người không có khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn để khởi xướng các hoạt động kinh doanh nhỏ hoặc các hoạt động tạo thu nhập của họ. Phát triển TCVM bền vững đã trở thành một mục tiêu quan trọng cho sự phát triển kinh tế và được coi là công cụ đắc lực trong công cuộc XĐGN, TCVM là hoạt động có ý nghĩa xã hội sâu sắc 12 và ngày càng lớn mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Bên cạnh khuyến khích tạo điều kiện các tổ chức TCVM phát triển, nước ta còn sử dụng ba loại hình TDCS phục vụ cho ba mục tiêu mà Nhà nước muốn hỗ trợ, đó là: (1) Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, (2) Tín dụng hỗ trợ đầu tư phát triển, (3) Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo và bảo đảm ASXH được giao cho hai ngân hàng thực hiện là NHPT Việt Nam và NHCSXH. Để thực hiện mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, đảm bảo ASXH, Chính phủ Việt Nam đã có chính sách tín dụng hỗ trợ người nghèo, vùng nghèo và các đối tượng chính sách khác trong lĩnh vực ASXH như: Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo việc làm mới, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo. Loại hình TDCS này mang tính chính sách ưu đãi, đặc thù riêng đối với người vay về cơ chế cho vay, cơ chế xử lý rủi ro, lãi suất cho vay, điều kiện, thủ tục vay vốn.Trong Luận văn này chỉ nghiên cứu về loại hình TDCS do NHCSXH quản lý theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ, nên để thuận tiện cho việc theo dõi, tất cả các từ “Tín dụng chính sách” đều được hiểu là “tín dụng chính sách xã hội”. Vì vậy, tại Điều 1, Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ đưa ra khái niệm về TDCS như sau: Tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động, cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn với các ưu đãi so với tín dụng thông thường, để phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, tạo việc làm, cải thiện đời sống góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bảo đảm an sinh xã hội [18].
Đặc điểm Từ khái niệm nêu trên, một số đặc điểm nổi bật của tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác được phân tích dưới đây để hiểu rõ hơn bản chất của tín dụng chính sách: Thứ nhất, TDCS là tổ chức tín dụng được Nhà nước thành lập để thực hiện cấp tín dụng trong lĩnh vực ASXH, là kênh tín dụng của Chính phủ giúp những người nghèo đói có vốn phát triển SXKD nâng cao đời sống, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm phục vụ SXKD, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu XĐGN, ổn định kinh tế - chính trị và bảo đảm ASXH. TDCS 13 cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay thường gắn liền với hoạt động nông nghiệp do đại bộ phận nhóm đối tượng này tập trung tại nông thôn với nghề nông là chủ yếu. Vì vậy, sản phẩm làm ra có tính chất mùa vụ cao, lao động làm thuê không ổn định, nguồn thu nhập, nhu cầu chi tiêu nhiều biến động, khó dự báo và tất yếu dẫn đến nhu cầu vay mượn cao để tạo điều kiện cho họ vươn lên thoát nghèo thì cần có chính sách ưu đãi về vốn vay. Thứ hai, đối tượng vay vốn TDCS là người nghèo và các đối tượng chính sách khác do Chính phủ chỉ định và quyết định đối tượng vay theo từng chương trình tín dụng.
Nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách khác phụ thuộc nhiều vào đời sống sinh hoạt, hoạt động SXKD, tạo việc làm… mà có các nguồn vốn tài trợ khác nhau như: cho vay chương trình nước sạch vệ sinh môi trường và nông thôn, chương trình vay cho nhu cầu đi học nghề, đi xuất khẩu lao động, nhu cầu mua vật nuôi, mua cây giống, mua vật tư sản xuất…ứng với đối tượng vay vốn cụ thể do Chính phủ quy định. Thứ ba, nguồn vốn cho vay TDCS là nguồn vốn của Chính phủ từ Ngân sách Nhà nước và có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước. Trong đề tài nghiên cứu này tác giả chỉ nghiên cứu về thực hiện mục tiêu Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo và bảo đảm ASXH mà Nhà nước muốn hỗ trợ với phương châm NHCSXH mang vốn TDCS của Chính phủ đến với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên mọi miền của Đất nước. Thứ tư, TDCS thực hiện cơ chế ưu đãi về lãi suất cho vay, điều kiện vay vốn (Hầu hết các chương trình TDCS cho vay tín chấp không phải thế chấp tài sản), thủ tục cho vay và cách tiếp cận với nguồn vốn TDCS và tất cả các cơ chế ưu đãi trên đều do Chính phủ hoặc người được Chính phủ ủy quyền quyết định.
Thứ năm, phương thức cho vay đa dạng: TDCS có thể cho vay trực tiếp đến khách hàng, cho vay trực tiếp có ủy thác một phần một số nội dung công việc cho các tổ chức Chính trị - Xã hội hoặc cho vay toàn phần cho các tổ chức tín dụng khác. Hiện nay, các chương trình Tín dụng tại NHCSXH hầu hết đều thực hiện phương thức cho vay trực tiếp có ủy thác một số nội dung công việc cho các tổ chức Hội đoàn thể gọi tắt là phương thức cho vay ủy thác một phần và một số ít chương trình tín dụng cho vay trực tiếp đến người vay [18]. Vai trò TDCS có vai trò quan trọng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Nó được coi là công cụ quan trọng để phá vỡ vòng luẩn quẩn của đói nghèo, của thu nhập thấp, của năng suất thấp và không có dư để tiết kiệm, là chìa khoá vàng để giảm nghèo.
Vai trò TDCS được thể hiện ở một số nội dung sau: Thứ nhất, cung cấp vốn TDCS giúp cho các đối tượng chính sách vượt qua những khó khăn về nguồn lực tài chính góp phần cải thiện tình hình thị trường tài chính ở khu vực thành thị, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống. Vốn TDCS còn giúp cho các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận được khoa học kỹ thuật, công nghệ mới như: các giống cây con mới, kỹ thuật canh tác mới cho năng xuất cao…và cũng nhờ vay vốn TDCS, mà hộ nghèo có điều kiện SXKD tiếp cận được với công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. TDCS là giải pháp thoát nghèo, đảm bảo ASXH theo nhóm công tác TCVM Việt Nam đã thực hiện một khảo sát cho thấy: 90% đối tượng khảo sát bày tỏ sự hài lòng của mình khi vay vốn TDCS vì sự thuận tiện và phù hợp với nhu cầu bản thân họ [13]. TDCS mang vốn đến tận xã, phường, thị trấn tạo điều kiện cho người nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận vốn TDCS dể dàng và thuận tiện trong giao dịch nhận tiền vay, trả nợ, trả lãi vay…Con số 90% sự hài lòng khi vay vốn TDCS đã phần nào chứng tỏ được nhu cầu vay vốn TDCS ưu đãi rất lớn của nhiều người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Thứ hai, TDCS làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi: Tệ nạn cho vay nặng lãi luôn hình thành ở mọi thời đại và có từ lâu đời cho đến nay vẫn đang tồn tại và biến tướng khá nặng nề ở nông thôn, vùng cao, vùng sâu, vùng xa không dừng lại ở đó nó còn xuất hiện trá hình dưới nhiều hình thức ở thành thị. Do nhu cầu cấp bách (thường là do đói kém, ốm đau bệnh tật, dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt, chi phí cho con đi học hoặc nhu cầu đột xuất khác) mà không tiếp cận được với vốn TDCS nên họ phải vay nặng lãi gây nhiều tác hại cho người dân, làm cho họ khó có thể thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn đói nghèo. Trong một nghiên cứu của WB công bố trên trang Global Findex – cơ sở dữ liệu tài chính toàn cầu, năm 2011 ở Việt Nam có khoảng 79% người dân không được tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thức.