phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt và phần phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu. Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu trong thời gian tới. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP Doanh nghiệp là một hệ thống phức tạp và đa dạng, cả về số lƣợng và cơ cấu nguồn lực, về chuyên môn, về công nghệ sử dụng hay hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện hiện nay, với sự hội nhập của nền kinh tế thị trƣờng, cách hình thức cạnh tranh mới, các công nghệ mới xuất hiện, thúc đẩy doanh nghiệp phải tự thích ứng, phải trở nên mềm dẻo hơn.
Dƣới áp lực của nhiều sự ràng buộc, cả từ bên ngoài (Nhà nƣớc, nhà cung cấp, khách hàng, các tổ chức tài chính.) lẫn từ bên trong (liên minh giữa các nhóm khác nhau trong cùng ngành), doanh nghiệp cần phải có biện pháp để có thể tồn tại và phát triển. Trong đó có việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là yếu tố quyết định quan trọng nhất. Do mục tiêu nghiên cứu, chƣơng này chủ yếu sẽ đi vào nghiên cứu lý thuyết chung về hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Quá trình hoạt động của các doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể về quy trình công nghệ và tính chất hoạt động, phần lớn do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất ở từng doanh nghiệp quyết định.
Mặc dù vậy, có thể khái quát những nét chung nhất của các doanh nghiệp là đều phải sử dụng vốn để chuẩn bị các yếu tố đầu vào, thực hiện một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định để tạo ra các sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn thành đầu ra, nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của doanh nghiệp để đạt đƣợc sự tăng trƣởng và phát triển. 7 Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng phải dự tính đƣợc khả năng xảy ra rủi ro, đặc biệt là rủi ro tài chính để có cách ứng phó kịp thời và đúng đắn. Dƣới sức ép của thị trƣờng cạnh tranh, doanh nghiệp phải chuyển dần từ chiến lƣợc trong cung cổ điển sang chiến lƣợc trọng cầu hiện đại. Những đòi hỏi về chất lƣợng, mẫu mã, giá cả.
ngày càng cao hơn, tinh tế hơn của các khách hàng buộc các doanh nghiệp phải thƣờng xuyên thay đổi chính sách sản phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Trong các doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu nói riêng cần trả lời đƣợc câu hỏi: sử dụng vốn kinh doanh nhƣ thế nào cho có hiệu quả cao? 1. Vốn của doanh nghiệp 1. Tổng quan về vốn của doanh nghiệp Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp đƣợc coi nhƣ là một tế bào với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để cung cấp cho xã hội.
Doanh nghiệp có thể thực hiện đƣợc một, một số, hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Để tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động, và sức lao động. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố để tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Để có đƣợc các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh.
Từ khi thành lập, doanh nghiệp cần có một số vốn nhất định gọi là vốn điều lệ. Vốn điều lệ chủ yếu ở đây là tiền vốn góp của các chủ doanh nghiệp, hoặc có thể là đất đai, nhà cửa, ô tô, máy móc thiết bị sản xuất. Trong quá trình hoạt động 8 sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể mua sắm thêm các máy móc thiết bị khác, xây dựng nhà xƣởng, nhà văn phòng, mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thuê lao động. từ vốn bằng tiền hiện có hoặc đi vay mƣợn, từ phần lợi nhuận đƣợc tích luỹ để phát triển kinh doanh.
Thể hiện bằng tiền của tất cả các tài sản của doanh nghiệp trong bất cứ một thời điểm nào thì đó chính là vốn của doanh nghiệp tại thời điểm đó. Một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nào thì cũng cần có vốn. Khái niệm và bản chất của vốn kinh doanh Có nhiều khái niệm khác nhau về vốn kinh doanh: Thứ nhất, vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản đƣợc huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời [18, tr.57] Thứ hai, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là số tiền ứng trƣớc về toàn bộ tài sản hữu hình, tài sản vô hình phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích kiếm lời Vốn là tiền ứng trƣớc để kinh doanh nhƣng tiền chƣa hẳn đã là vốn. Tiền đƣợc gọi là vốn thì phải thoả mãn các điều kiện sau: - Tiền phải có giá trị lƣu hành - Tiền phải đƣợc tích tụ và tập trung đến một mức độ nhất định, đủ để đầu tƣ vào một dự án kinh doanh - Khi tiền đủ lƣợng phải vận động nhằm mục đích kiếm lời.
Vốn là số tiền mà doanh nghiệp nắm trong tay trong suốt thời gian tồn tại để thực hiện công việc kinh doanh của mình [34]. 9 Tóm lại, vốn kinh doanh là số tiền đầu tư ứng trước để hình thành nên tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn kinh doanh thể hiện bằng tiền về mặt giá trị của tài sản. Hình thái biểu hiện vật chất của vốn kinh doanh là các loại tài sản trong doanh nghiệp. Đặc trưng của vốn kinh doanh Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thƣờng xuyên vận động và chuyển hoá từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền.
Sự vận động của vốn kinh doanh nhƣ vậy đƣợc gọi là sự tuần hoàn của vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ, tạo thành sự chu chuyển vốn kinh doanh. Sự chu chuyển vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của ngành nghề kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Nhìn chung, ta có thể thấy vốn của doanh nghiệp có những đặc trƣng cơ bản nhƣ sau: Thứ nhất, vốn phải vận động và sinh lời. Vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản, nhƣng không phải lúc nào tiền cũng là vốn. Tiền phải vận động và sinh lời mới đƣợc gọi là vốn. Trong quá trình vận động, tiền có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhƣng khi kết thúc vòng tuần hoàn phải trở về hình thái ban đầu với giá trị lớn hơn.
Đó cũng là nguyên lý đầu tƣ, sử dụng bảo toàn và phát triển vốn. Vì vậy, khi đồng vốn bị ứ đọng, tài sản không vận động, tài nguyên, sức lao động không sử dụng, tiền- vàng bỏ ống cất trữ, hoặc các khoản nợ khó đòi… chỉ là những đồng “vốn chết”. Mặt khác, tiền có vận động nhƣng khi kết thúc vòng luân chuyển mà không mang lại giá trị lớn hơn thì đồng vốn cũng không đƣợc đảm bảo, chu kỳ tiếp theo cũng bị ảnh hƣởng (vốn bị mất đi). 10 Thứ hai, vốn phải đại diện cho một lƣợng giá trị tài sản nhất định.
Đó là biểu hiện bằng tiền của các tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong doanh nghiệp nhƣ nhà xƣởng, đất đai, thiết bị sản xuất, nguyên vật liệu, chất xám, thông tin… Nhƣ vậy, một lƣợng tiền mà thoát ly giá trị thực của tài sản để đƣa vào đầu tƣ hoặc những khoản nợ mà không có khả năng thu hồi đƣợc thì không đúng nghĩa của vốn. Thứ ba, vốn phải đƣợc tích tụ và tập trung đến một lƣợng nhất định mới có thể phát huy đƣợc tác dụng. Để đầu tƣ vào hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có đủ vốn. Thứ tư, vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định.
Muốn đồng vốn sinh lời, thì cần phải có chủ thể sở hữu vốn gắn liền với lợi ích kinh tế với nó. Do vậy, họ sẽ tăng cƣờng quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả. Doanh nghiệp không những chỉ khai thác các tiềm năng về vốn của doanh nghiệp mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn ngoài doanh nghiệp nhƣ: nhận vốn góp liên doanh, liên kết, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn… Thứ năm, vốn có giá trị về mặt thời gian- nghĩa là phải xét đến giá trị thời gian của đồng vốn. Vì trong nền kinh tế thị trƣờng, vốn bị ảnh hƣởng của lạm phát, sự biến động của giá cả nên sức mua của đồng tiền ở các thời điể m hác nhau là khác nhau.
Do vậy, đồng vốn đƣợc đầu tƣ khác nhau theo thời gian. (Khi định giá doanh nghiệp hoặc đầu tư trong một thời gian dài cần xem xét đến đặc trưng này) Thứ sáu, trong nền kinh tế thị trƣờng, vốn phải đƣợc quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt. Những ngƣời có sẵn vốn có thể đƣa vốn vào thị trƣờng, còn những ngƣời cần vốn thì đến thị trƣờng này để có đƣợc vốn. Ngƣời có vốn là chủ nợ (ngƣời cho vay), ngƣời cần vốn là con nợ (ngƣời đi vay).
Ngƣời đi vay sử dụng vốn của ngƣời cho vay và phải trả một khoản tiền nhất định (lãi tiền vay- tính theo 11 tỷ lệ lãi suất nhất định), ngƣời cho vay không mất quyền sở hữu vốn mà chỉ mất quyền sử dụng. Việc mua bán vốn cũng tuân theo quy luật cung- cầu trên thị trƣờng. Nhƣ vậy, khác với hàng hoá thông thƣờng, vốn khi bị bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng. Thứ bảy, vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền của các tài sản hữu hình mà nó còn đƣợc biểu hiện bằng giá trị của những tài sản vô hình nhƣ: bản quyền phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ, nhãn hiệu hàng hoá… Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tài sản vô hình ngày càng đa dạng và phong phú, chúng ngày càng có vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lời của doanh nghiệp.