Chương 1: Cơ sở lý thuyết về vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hiệu qua sử dụng vốn tại Công ty Cổ phan gỗ Mạnh Xuân Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần gỗ Mạnh Xuân 4 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VE VON VÀ HIỆU QUÁ SU DỤNG VON CUA DOANH NGHIỆP 1. Von và vai trò của von Quá trình hình thành, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Yếu tố vốn, yếu tố lao động và yếu tố công nghệ (Tran Mai, 2018). Trong đó, yếu tô vốn là tiền đề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới doanh nghiệp mà còn tác động tới hai yếu tố còn lại. Vì vậy, vốn đóng vai trò then chốt trong hoạt động của các doanh nghiệp.
Khái niệm vốn Theo Karl Marx (1867), “vốn là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thang dư. Vốn là yêu tố đầu vào của mọi quá trình sản xuất”. Day là quan điểm mang giá trị thực tiễn cao và có tính khái quát, được nhắc đến và đồng tình bởi các nhà kinh tế học hiện đại. Tuy nhiên, cách định nghĩa này vẫn tồn tại những điểm hạn chế khi cho rằng trong tất cả mọi tình huống, vốn luôn tạo ra giá trị thặng dư cho doanh nghiệp và giá trị thặng dư này luôn bắt nguôn từ khu vực sản xuât.
Dựa trên định nghĩa khái quát của Marx, các nhà kinh tế học hiện đại đã có nhiều cách định nghĩa vốn khác nhau đặc trưng cho các trường phái kinh tế. Clark (1888) đã định nghĩa vốn là một công cụ trừu tượng, luôn luôn ton tại và không bao giờ bị phá hoại và là phương tiện dé làm việc và tao ra giá trị trong sản xuất. Quan điểm này cũng được đồng tình và kế thừa bởi Samuelson (1947) khi cho rằng “vốn là những hàng hóa sản xuất ra nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất mới”. Đây là nhóm quan điểm định nghĩa vốn dưới hình thái hiện vật.
Còn theo quan điểm của Begg et al. (2001), vốn được nhìn nhận và chia ra thành “vốn hiện vật” là “các hàng hóa sản xuất ra dé sản xuất ra hàng hóa khác” và “vốn tài chính là “tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp”. Tuy nhiên, một số nhà kinh tế học lại có cách định nghĩa khác biệt, khắc phục được hạn chế trong cách định nghĩa của Karl Marx. Hicks (1939) đã định nghĩa “vốn là tập hợp tat cả những vật chat, giá trị tồn tai ở thời điểm hiện tại và có thé dùng theo bat cứ cách nào đê thỏa mãn nhu câu của người sử dung von ở những năm tiêp theo”.
Theo cách định nghĩa này, hàng tiêu dùng không được sử dụng cho quá trình sau đó cũng năm trong “vôn”. Trong thời đại hiện nay, vốn được xem như yếu tô đầu vào tham gia vào chuỗi sản xuất hoạt động của doanh nghiệp và các quá trình sản xuất kinh doanh bên ngoài chứ không chỉ tham gia một chu trình sản xuất độc lập như các quan điểm trước đây. Trong phạm vi doanh nghiệp nói riêng, vốn là tat cả tài sản đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm các nhân tố khác nhau như lao động, tài nguyên thiên nhiên. Còn trong phạm vi nền kinh tế tong quan, vốn là tiền tệ và hàng hóa nham mục dich sinh lời.
Tại Việt Nam, định nghĩa vốn thay đổi theo phương diện của nhà nghiên cứu. Trên phương diện kế toán nói riêng, vốn được định nghĩa là “biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ, có khả năng huy động, khai thác và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. Tổng quát hơn, Vũ Duy Hào & Trần Minh Tuấn (2016) định nghĩa vốn là “toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp cần phải bỏ ra dé đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Đồng tình với quan điểm trên, Cao Thị Ý Nhi & Đặng Anh Tuấn (2016) cũng cho rằng “vốn là đầu vào, là toàn bộ giá tri tài sản cua chủ doanh nghiệp ứng ra dé tiễn hành sản xuất kinh doanh”.
Ngoài ra các nhà nghiên cứu cũng nhắn mạnh tầm quan trọng của vốn tới việc hình thành và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn cần được theo dõi, xem xét và đánh giá trong trạng thái vận động và hiệu quả sử dụng vốn là mục tiêu có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp. Như vậy, cách định nghĩa về vốn vẫn còn nhiều khác biệt giữa các nghiên cứu. Những khác biệt này đến từ các đặc điểm khác biệt trong quan điểm nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và đến từ những đặc điểm khác biệt của điều kiện kinh tế trong các giai đoạn lịch sử.
Tuy khác nhau về định nghĩa nhưng các khái niệm đều có các đặc điểm chung: - - Nguồn gốc của bất kỳ nguồn vốn dưới hình thái nào cũng là bộ phận thu nhập được tái đầu tư. - _ Doanh nghiệp sử dụng vốn trong tất cả các hoạt động như một loại tài sản với mục tiêu tạo ra giá tri thang dư trong tương lai, có thể dưới dạng hữu hình (máy móc, nguyên liệu, vật liệu.) hoặc vô hình (thương hiệu, bản quyền, .) - _ Vốn là hàng hóa do chúng có giá trị và được sử dụng. Vốn có những đặc tính khác biệt so với các loại hàng hóa thông thường trên thị có thé được trao đổi quyền sử dụng trên thị trường. Trong nghiên cứu này, vốn sẽ được định nghĩa là “đầu vào, là toàn bộ giá trị tài sản của chủ doanh nghiệp ứng ra dé tiến hành sản xuất kinh doanh”.
Vốn tôn tại dưới dạng tài sản tài chính (tiền mặt, giấy tờ có giá) và hàng hóa, hiện vật của doanh nghiệp. Vì thế, vốn không phải là tiền. Tiền sẽ là vốn nếu được đưa vào phục vụ quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Quan điểm này kế thừa được những đặc điểm trong các quan điểm đi trước về cách định nghĩa vốn trong doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, quan điểm này cũng thể hiện được mục tiêu chính của vốn trong doanh nghiệp là để tiễn hành sản xuất kinh doanh từ đó tạo ra giá trị thặng dư, hay chính là lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì vậy, vai trò của vốn là thiết yêu và mang tính quyết định đối với doanh nghiệp. Phân loại vốn Dựa theo các tiêu chí khác nhau của doanh nghiệp, nguôn vôn được phân chia thành các nhóm khác nhau. Cụ thê: Bang 1.
Bang phân chia các nhóm nguồn vốn dựa theo các tiêu chí Tiêu chí Các nhóm vôn Vai trò và tính luân chuyên |- Vôn cô định - Vốn lưu động Nguồn hình thành - V6n chủ sở hữu - _ Vốn huy động Thời gian huy động và sử |- Vốn thường xuyên dụng nguôn von - V6n tạm thời Nguồn: Tổng hợp của tác giả 1. Theo vai trò và tính luân chuyển Theo vai trò và tính luân chuyên, nguôn vôn được bao gôm hai loại: “vôn cô định” và “vôn lưu động”. e Von cô định Vốn có định được định nghĩa là “một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCD mà đặc điểm của nó là luân chuyền dan dần từng phan trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành 1 vòng tuần hoàn khi TSCD hết thời gian sử dụng”. (Vũ Quang Kết, 2016) Như vậy, một cách đơn giản nhất vốn cô định được hiểu là biểu hiện bang giá trị tiền bạc của tài sản cô định trong doanh nghiệp.
Từ cách định nghĩa trên, công thức tinh vôn cô định: Vốn cố định = Nguyên giá tài san cố định — Khấu hao tài san cố định lũy kế Tài sản cô định không thay đổi hình thái vật chất ban đầu trong quá trình tham gia vào các chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp và giá trị của nhóm tài sản này được hao mòn và phân bổ từng phan vào giá trị của các sản phẩm đầu ra. Theo khoản 1 điều 3 Thông tư 45/2013/TT-BTC, các tài sản đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây sẽ được coi là tài sản cô định: - Chic chăn thu lại được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản ở hiện tại - Thời gian sử dụng trên l năm - Nguyên giá tai sản phải có giá trị từ 30.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên và được xác minh Từ những đặc điểm trên của TSCD, quá trình luân chuyển vốn cô định có những đặc điêm sau: - _ Vốn cô định tham gia vào nhiều chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - _ Vốn cô định của doanh nghiệp được luân chuyển theo từng phan trong từng giai đoạn của hoạt động doanh nghiệp bằng cách chuyền dịch vào chính giá trị của sản phẩm. Vì vậy sau nhiều chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp, khoản vốn cố định đầu tư ban đầu mới có thê kết thúc vòng luân chuyên hoàn chỉnh.
Như vậy, vốn có định là phần vốn đầu tư vào tài sản có định của doanh nghiệp dé phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong tương lai. Tùy thuộc vào tính chất của các ngành nghề, vốn cố định sẽ chiếm ty trọng khác nhau. Đối với các doanh nghiệp chế biến gỗ trên thị trường như Công ty cô phần gỗ Mạnh Xuân, vốn có định là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn của doanh nghiệp và có quy luật luân chuyền riêng so với các nhóm khác của doanh nghiệp. Vì vậy, các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn của công ty cô phần gỗ Mạnh Xuân nói riêng và các doanh nghiệp chế biến gỗ nói chung chịu tác động lớn bởi yếu tố sử dụng vốn có định.
e Vốn lưu động Ngoài nhóm tài sản cố định, trong doanh nghiệp luôn có một khối lượng tài sản nhất định tồn tại trong các chu trình sản xuất, chính là tài sản lưu động của doanh nghiệp. Vốn lưu động là biểu hiện của tài sản lưu động trong doanh nghiệp được chuyền hóa thành giá trị đo lường bằng tiền. Như vậy, vốn lưu động được định nghĩa là “số vốn mà doanh nghiệp phải ứng ra dé tạo nên tài sản lưu động, giúp doanh nghiệp tiếp tục các hoạt động kinh doanh”. Như vậy, vốn lưu động được tính như sau: Vốn lưu động = Giá trị tài sản ngắn hạn — Các khoản phải trả ngắn hạn Tài sản lưu động phần lớn loại tài sản được chuyền hóa thành sản phẩm trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp và mất đi hình thái hiện vật ban đầu.