Chương 1: Cơ sở lý luận thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Chương 2: Địa bàn nghiên cứu và Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh Chương 4: Giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 1. Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp 1.
Khái niệm Khái niệm về đất nông nghiệp có nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau, có khái niệm đƣợc phản ánh quá trình phát triển hình thành, có khái niệm phản ánh mối quan hệ của đất nông nghiệp với cây trồng. Để thống nhất cách hiểu và quan điểm, luận văn tiếp cận với hai khái niệm trong Luật đất đai của Việt Nam. Theo Luật đất đai (2001), đất nông nghiệp là toàn bộ diện tích đất đƣợc xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, bao gồm: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, diện tích mặt nƣớc dùng vào mục đích nuôi trồng thủy sản, đất đồng cỏ, đất thí nghiệm nông nghiệp. Theo Luật đất đai (2003), đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng.
Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [10], [11]. Nhƣ vậy, có thể hiểu tổng quát về đất nông nghiệp là tƣ liệu sản xuất trong nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu cho các cây trồng vật nuôi, môi trƣờng phục vụ cho các nghiên cứu khoa học về nông nghiệp và đảm bảo tái sản xuất tạo ra nông sản phẩm phục vụ con ngƣời. Phân loại đất nông nghiệp Đất nông nghiệp đƣợc phân loại thành 4 nhóm: Đất sản xuất nông nghiệp; Đất lâm nghiệp; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 6 nghiệp khác. Đất sản xuất nông nghiệp là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, gồm: (1) Đất trồng cây hàng năm, bao gồm: đất trồng lúa (chuyên lúa nước, lúa nước còn lạ, lúa nương); đất cỏ dùng vào chăn nuôi (trồng cỏ, cỏ tự nhiên có cải tạo); đất trồng cây hàng năm khác (đất bằng trồng cây hàng năm; đất nương rẫy trồng cây hàng năm).
(2) Đất trồng cây lâu năm, bao gồm: đất trồng cây công nghiệp lâu năm; đất trồng cây ăn quả lâu năm, đất trồng cây lâu năm khác. Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng, đất để trồng rừng mới, gồm: (1) Đất rừng sản xuất, bao gồm: rừng tự nhiên sản xuất, rừng trồng sản xuất, khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất, rừng sản xuất. (2) Đất rừng phòng hộ, bao gồm: rừng tự nhiên phòng hộ, rừng trồng phòng hộ, khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ, trồng rừng phòng hộ. (3) Đất rừng đặc dụng, bao gồm: rừng tự nhiên đặc dụng, rừng trồng đặc dụng, khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng, trồng rừng đặc dụng.
Đất nuôi trồng thủy sản là đất đƣợc sử dụng chuyên vào mục đích nuôi trồng thủy sản, gồm: (1) đất nuôi trồng thủy sản nƣớc lợ, mặn; (2) Đất chuyên trồng thủy sản nƣớc ngọt. Đất làm muối là ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản xuất muối. Đất nông nghiệp khác là đất tại nông thôn để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác đƣợc pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ƣơm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 7 xuất nông nghiệp. Vai trò của đất nông nghiệp Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động - thực vật và con ngƣời trên trái đất.
Đất đai là điều kiện cần thiết để con ngƣời tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp nhau của loài ngƣời, tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội. Tuy nhiên, đối với mỗi ngành cụ thể đất đai có vị trí và vai trò khác nhau. Trong nông nghiệp, đất đai có vị trí đặc biệt, là yếu tố đầu vào của sản xuất nông lâm nghiệp, sử dụng đất đai có ảnh hƣởng tới kết quả đầu ra, đặc biệt trong hệ thống sản xuất hàng hóa. Chất lƣợng đất và các lợi thế của đất sẽ quyết định đến khối lƣợng sản phẩm sản xuất ra và khả năng sinh lời của đất.
Đất đai là tƣ liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là vì đất đai vừa đóng vai trò là đối tƣợng lao động, vừa đóng vai trò là tƣ liệu lao động. Đất đai là đối tƣợng lao động vì đất đai chịu sự tác động của con ngƣời trong quá trình sản xuất để tạo môi trƣờng cho sinh vật phát triển. Đất đai là tƣ liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng nhƣ một công cụ lao động. Con ngƣời sử dụng đất đai để chăn nuôi, trồng trọt, canh tác, không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp.
Với vị trí và vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, việc quản lý và sử dụng đất đai nói chung cũng nhƣ đất nông nghiệp nói riêng một cách đúng hƣớng, có hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định kinh tế, đảm bảo an ninh lƣơng thực. Đặc điểm kinh tế của đất nông nghiệp Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế: Đất đai có đặc trƣng riêng chính là sự khác biệt với các tƣ liệu sản xuất khác trong quá trình sử dụng. Các tƣ liệu sản xuất khác sau một thời gian sử dụng sẽ bị hao mòn và hỏng hóc, còn đất đai nếu sử dụng hợp lý, khoa học sẽ lại càng tốt hơn. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 8 Đặc điểm nay có đƣợc là do đất đai có độ phì nhiêu.
Độ phì nhiêu của đất đƣợc chi thành các loại: Độ phì tự nhiên đƣợc tạo ra do quá trình phong hóa tự nhiên, độ phì loại này gắn liên với thuộc tính lý, hóa, sinh học của đất và môi trƣờng xung quanh; Độ phì nhân tạo có đƣợc là do kết quả của sự tác động có ý thức của con ngƣời, bằng cách áp dụng hệ thống canh tác hợp lý, có căn cứ khoa học để thỏa mãn mục đích của con ngƣời; Độ phì kinh tế là do độ phì nhiêu mà con ngƣời khai thác sử dụng cho mục đích kinh tế thông qua sự hấp thụ và chuyển hóa của cây trồng sau một quá trình sản xuất. Từ những đặc điểm này, trong nông nghiệp cần phải quản lý đất đai một cách chặt chẽ, theo quy định của luật đất đai, phân loại đất đai một cách chính xác, bố trí sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý, thực hiện chế độ canh tác thích hợp để tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên đất [3]. Diện tích đất là hữu hạn: Diện tích đất đai là có giới hạn đối với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt và định cƣ trên một phạm vi đất sử dụng. Sự giới hạn về diện tích đất nông nghiệp còn thể hiện ở khả năng có hạn của hoạt động khai hoang, khả năng tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể.
Quỹ đất nông nghiệp là có hạn và ngày càng trở lên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất đai phục vụ cho quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá cũng nhƣ đáp ứng nhu cầu đất ở khi dân số ngày một gia tăng. Đặc điểm này ảnh hƣởng đến khả năng duy trì và mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp. Diện tích đất đai là có hạn không có nghĩa là mức cung về đất đai trên thị trƣờng là cố định. Tuy quỹ đất đai có hạn nhƣng đƣờng cung về đất đai trên thị trƣờng vẫn là một đƣờng dốc lên thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa giá đất và lƣợng cung tiền về đất.
Đặc điểm này cho thấy cần quy hoạch và sử dụng đất đai hợp lý đồng thời quản lý chặt chẽ để vừa đảm bảo nâng cao thu nhập cho ngƣời nông dân vừa đảm bảo an ninh lƣơng thực trong thời kỳ CNH - HĐH [3]. Đất đai có vị trí cố định: Các tƣ liệu sản xuất khác có thể đƣợc di Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 9 chuyển trong quá trình sử dụng từ vị trí này sang vị trí khác thuận lợi, nhƣng với đất đai việc làm đó là không thể. Chúng ta không thể di chuyển đất đai theo ý muốn mà chỉ có thể canh tác trên những vị trí đất đai đã có sẵn. Chính vị trí cố định đã quy định tính chất hoá - sinh - lý của đất đai đồng thời cũng góp phần hình thành nên những lợi thế so sánh nhất định về sản xuất nông nghiệp.
Từ những nghiên cứu về đặc điểm đất đai cho biết cần phải bố trí sản xuất hợp lý cho từng vùng đất phù hợp với lợi thế so sánh và những hạn chế của vùng, thực hiện quy hoạch, phân bổ đất đai cho các mục tiêu sử dụng một cách hợp lý, xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thuỷ lợi, giao thông cho từng vùng để tạo điều kiện sử dụng đất tốt hơn. Đất đai là sản phẩm của tự nhiên: Đất đai là sản phẩm mà tự nhiên ban tặng cho con ngƣời. Song, thông qua lao động để thoả mãn mong muốn của mình, con ngƣời làm thay đổi gia trị và độ phì nhiêu của đất đai.