Chương I: Cơ sở lý luận chung về hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.1 Khái niệm doanh nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp - Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh (Theo Luật doanh nghiệp 2005). - Hoạt động SXKD là những hoạt động sử dụng các yếu tố đầu vào tạo ra sản phẩm vào cung cấp cho các đối tượng sản xuất, tiêu dùng trong vào ngoài nước nhằm mang lại thu nhâp cho tập thể lao động và doanh nghiệp, là hoạt động có mục đích nhằm tạo ra sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân và toàn xã hội. Kết quả thu được ở đây là những hàng hóa cá nhân và hàng hóa xã hội.2 Hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp.1 Khái niệm hiệu quả SXKD: - Hiệu quả SXKD trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tiền vốn,…) nhằm đạt đươc mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Hiệu quả SXKD cho ta biết mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích đó.
Hiệu quả SXKD là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp trong nên kinh tế thị trường hiện nay.2 Bản chất của hiệu quả SXKD. - Bản chất của hiệu quả SXKD là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực( lao động, máy móc thiệt bị, nguyên vật liệu, tiền vốn,…) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động SXKD của doanh nghiêp – mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.3 Các nhân tố ảnh hưởng. − Nhân tố khách quan: + Nhân tố môi trường kinh tế ổn định cũng như chính tri trong khu vực ổn định làm cơ sở để các doanh nghiệp trong khu vực tiến hành các hoạt động SXKD thuận lợi góp phần nâng cao hiệu quả SXKD. + Nhân tố môi trường kinh tế quốc dân.
Trang 6/ 53 Đề tài NCKH GVHD: Th.S Lê Trọng Tùng + Nhân tố môi trường chính trị pháp luật: • Môi trường kinh tế ổn định luôn luôn làm tiền đề cho viêc phát triển và mở rộng các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước. Các hoạt động đầu tư lại tác động trở lại tới các hiệu quả SXKD của doanh nghiêp. • Các doanh nghiệp phải chấp hành các quy định của pháp luật, phải thực hiện nghĩa vụ của mình với nhà nước, với XH với người lao động theo luật pháp quy định. Có thể nói luật pháp là nhân tố kìm hãm hoặc khuyến thích sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả cũng như hiệu quả của các hoạt động SXKD của các doanh nghiệp.
+ Nhân tố văn hóa xã hội: tình trạng thất nghiệp trình độ giáo dục phong cách, lối sống, phong tục tập quán, tâm lý xã hội,… đều tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả SXKD của mỗi doanh nghiệp, có thể theo 2 chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. + Môi trường kinh tế: các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, tốc độ lạm phát, thu nhập bình quân trên đầu người… là các yếu tố tác động trực tiếp tới cung cầu của từng doanh nghiệp. Nếu tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân cao, các chính sách của chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, sự biến động tiền tệ là không đáng kể, lạm phát được giữ mức hợp lý, thu nhập bình quân đầu người tăng…sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và ngược lại. + Nhân tố điều kiện tự nhiên môi trường sinh thái và cơ sở hạ tầng: • Điều kiện tự nhiên: các loại tài nguyên khoáng sản, vị trí địa lý, thời tiết khí hậu,.
ảnh hưởng tới chi phí sử dụng nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, ảnh hưởng tới mặt hàng kinh doanh, năng suất chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới cung cầu sản phẩm do tính chất mùa vụ. do đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong vùng. • Tình trạng môi trường, các vấn đề về xử lý phế thải, ô nhiễm, các ràng buộc xã hội về môi trường,. đều có tác động nhất định đến chi phí kinh doanh, năng suất và chất lượng sản phẩm.
Một môi trường trong sạch thoáng mát sẽ trực tiếp làm giảm chi phí kinh doanh, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. • Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế quyết định sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp. Hệ thống đường xá, giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điện quốc gia. ảnh hưởng tới chi phí Trang 7/ 53 Đề tài NCKH GVHD: Th.S Lê Trọng Tùng kinh doanh, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng huy động và sử dụng vốn, khả năng giao dịch thanh toán.
của các doanh nghiệp do đó ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. + Môi trường khoa học kỹ thuật công nghệ: Tình hình phát triển và ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất trên thế giới cũng như trong nước ảnh hưởng đến trình độ kỹ thuật công nghệ và khả năng đổi mới kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng tới năng suất chất lượng sản phẩm tức ảnh hưởng tới hiệu quả SXKD của doanh nghiệp. + Nhân tố môi trường ngành bao gồm: • Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành. • Khả năng gia nhập mới của các doanh nghiêp.
• Sản phẩm thay thế. • Người cung ứng. • Người mua. - Các nhân tố chủ quan ( nhân tố bên trong doanh nghiệp ): + Bộ máy quản trị doanh nghiệp Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, bộ máy quản trị doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp, bộ máy quản trị doanh nghiệp phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau : Nhiệm vụ đầu tiên của bộ máy quản trị doanh nghiệp là xây dựng cho doanh nghiệp một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp.
Nếu xây dựng được một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp hợp lý (phù hợp với môi trường kinh doanh, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp) sẽ là cơ sở là định hướng tốt để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh và kế hoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp đã xây dựng. Tổ chức thực hiện các kế hoạch, các phương án và các hoạt động sản xuất kinh doanh đã đề ra. Tổ chức kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các quá trình trên.
Trang 8/ 53 Đề tài NCKH GVHD: Th.S Lê Trọng Tùng Với chức năng và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của bộ máy quản trị doanh nghiệp, ta có thể khẳng định rằng chất lượng của bộ máy quản trị quyết định rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bộ máy quản trị được tổ chức với cơ cấu phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gọn nhẹ linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng rõ ràng, có cơ chế phối hợp hành động hợp lý, với một đội ngũ quản trị viên có năng lực và tinh thần trách nhiệm cao sẽ đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Bộ máy quản trị doanh nghiệp được tổ chức hoạt động không hợp lý (quá cồng kềnh hoặc quá đơn giản), chức năng nhiệm vụ chồng chéo và không rõ ràng hoặc là phải kiểm nhiệm quá nhiều, sự phối hợp trong hoạt động không chặt chẽ, các quản trị viên thiếu năng lực và tinh thần trách nhiệm sẽ dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không cao. + Lao động tiền lương Lao động là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng, nó tham gia vào mọi hoạt động, mọi giai đoạn, mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao động tác động trực tiếp đến tất cả các giai đoạn các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phảm, tác động tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra công tác tổ chức lao động phải hợp lý giữa các bộ phận sản xuất, giữa các cá nhân trong doanh nghiệp, sử dụng người đúng việc sao cho phát huy tốt nhất năng lực sở trường của người lao động là một yêu cầu không thể thiếu trong công tác tổ chức lao động của doanh nghiệp nhằm đưa các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cao. Như vậy nếu ta coi chất lượng lao động (con người phù hợp trong kinh doanh) là điều kiện cần để tiến hành sản xuất kinh doanh thì công tác tổ chức lao động hợp lý là điều kiện đủ để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Công tác tổ chức bố trí sử dụng nguồn nhân lực phụ thuộc vào nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh, kế hoạch kinh doanh, phương án kinh doanh…đã đề ra.
Tuy nhiên công tác tổ chức lao động của bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần tuân thủ các nguyên tắc chung và sử dụng đúng người đúng việc, quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng sao cho có thể thực hiện nhanh nhất, tốt nhất các nhiệm vụ được giao, đồng thời phải phát huy được tính độc lập, sáng tạo của người lao động có như vậy sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh lao động thì tiền lương và thu nhập của người lao động cũng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì tiền lương là một bộ phận cấu thành lên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời nó còn tác động tới tâm lý người lao động trong doanh nghiệp.