Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước. Cơ chế kinh tế mới tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp khẳng định vị thế, nhưng đồng thời cũng đào thải các đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ do không đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế để có chiến lược đầu tư và quản lý nguồn lực phù hợp. Hiệu quả kinh tế sau mỗi chu kỳ kinh doanh được xác định là thước đo phản ánh năng lực tổ chức, quản lý và sử dụng các nguồn lực cốt lõi gồm lao động, vốn, máy móc thiết bị và quy trình công nghệ.

Chi nhánh hoá dầu Hải Phòng (tiền thân là Chi nhánh dầu nhờn Hải Phòng thành lập năm 1994 trực thuộc Công ty Dầu nhờn - Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam) ra đời từ cơ chế cũ, trải qua giai đoạn đầu khó khăn về cơ sở vật chất và kho bãi thuê mượn, từng bước củng cố bộ máy tổ chức, mở rộng quy mô hoạt động và gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhằm tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh tế trong điều kiện cạnh tranh thị trường, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh, bản chất, ý nghĩa, các nhân tố ảnh hưởng và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trong doanh nghiệp.
  2. Phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, nguồn lực hiện có và hiệu quả kinh tế tại Chi nhánh hoá dầu Hải Phòng thông qua số liệu thực tế giai đoạn 1998–2001.
  3. Đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Chi nhánh hoá dầu Hải Phòng trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hiệu quả sản xuất kinh doanh và các nguồn lực phục vụ sản xuất kinh doanh của Chi nhánh hoá dầu Hải Phòng. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung tại Chi nhánh hoá dầu Hải Phòng cùng các cơ sở phụ thuộc (Nhà máy dầu nhờn Thượng Lý, Kho hoá chất, Kho nhựa đường Thượng Lý); phạm vi thời gian khảo sát số liệu kinh tế - tài chính tập trung trong giai đoạn 1998–2001.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận hiệu quả sản xuất kinh doanh dưới góc độ một phạm trù kinh tế biểu hiện sự phát triển theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội, đòi hỏi doanh nghiệp đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hoặc đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Khái niệm chi phí được mở rộng bao gồm chi phí tạo ra nguồn lực, chi phí sử dụng nguồn lực và chi phí cơ hội.

Về hệ thống nhân tố tác động, tác giả phân chia thành hai nhóm:

  • Nhóm nhân tố chủ quan gồm 8 nhân tố: nguồn nhân lực và cơ cấu tổ chức lao động; công tác tổ chức quản lý; quản lý và sử dụng nguyên liệu; nguồn vốn và trình độ quản lý, sử dụng vốn; cơ sở vật chất kỹ thuật; hiểu biết về thị trường; văn minh phục vụ khách hàng; trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ.
  • Nhóm nhân tố khách quan gồm 5 nhân tố: sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế và của ngành; mức sống và thu nhập của dân cư, khách hàng; cơ chế quản lý và các chính sách của Nhà nước; nguồn cung ứng và giá cả nguyên vật liệu; môi trường cạnh tranh và quan hệ cung cầu.

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá được tác giả thiết lập theo công thức tổng quát $H = K / C$ (với $H$ là hiệu quả kinh tế, $K$ là kết quả sản xuất đạt được, $C$ là chi phí sản xuất bỏ ra) và cụ thể hóa qua các nhóm:

  • Nhóm chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất (tỷ số giữa Doanh thu, Doanh thu thuần hoặc Lợi nhuận với Vốn sản xuất bình quân năm).
  • Nhóm chỉ tiêu doanh lợi: Mức doanh lợi tổng vốn ($DL_{TV} = \text{Lợi nhuận sau thuế} / \text{Tổng vốn kinh doanh}$); Tốc độ chu chuyển vốn ($SV = \text{Doanh thu} / \text{Tổng vốn kinh doanh}$); Mức doanh lợi chi phí ($DLCF = (\text{Lợi nhuận sau thuế} / Z) \times 100%$, với $Z$ là giá thành sản phẩm tiêu thụ).
  • Nhóm chỉ tiêu hiệu quả bộ phận: Hiệu suất sử dụng tài sản cố định ($H_{TSCĐ} = \text{Kết quả} / TSCĐ$); Suất tài sản cố định ($S_{TSCĐ} = TSCĐ / \text{Kết quả}$); Hiệu quả sử dụng vốn lưu động ($H_{VLĐ} = KQ / VLĐ$ hoặc $LN / VLĐ$); Số vòng luân chuyển vốn lưu động ($SVLC = \text{Doanh thu} / VLĐ$); Số ngày bình quân một vòng luân chuyển ($SNLC = 365 / SVLC$); Năng suất lao động bình quân ($NSLĐ = KQ / LĐ$ và $NSLĐ = n \times g \times NS_g$, với $n$ là số ngày làm việc bình quân/năm, $g$ là số giờ làm việc bình quân/ngày, $NS_g$ là năng suất bình quân mỗi giờ làm việc); Hệ số trang bị tài sản cố định ($TSCĐ / \text{Số công nhân sản xuất}$).
  • Nhóm chỉ tiêu tài chính: Hệ số thanh toán ngắn hạn ($K = \text{Tài sản lưu động} / \text{Nợ ngắn hạn}$); Hệ số thanh toán nhanh ($K_n = (\text{Tiền} + \text{Chứng khoán ngắn hạn} + \text{Phải thu của khách hàng}) / \text{Nợ ngắn hạn}$); Tỷ số nợ phải trả trên tổng nguồn vốn; Tỷ số nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được sử dụng gồm phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh (so sánh bằng số tuyệt đối, số tương đối, so sánh mức độ hoàn thành so với kế hoạch và biến động qua các năm), phương pháp tỷ số tài chính và phương pháp bảng biểu kinh tế. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, Báo cáo thuyết minh tài chính và Biên bản kiểm kê tài sản cố định của Phòng Kế toán - Tài chính Chi nhánh hoá dầu Hải Phòng giai đoạn 1998–2001.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

Chương này tập trung làm rõ cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường. Tác giả phân tích và phản biện các quan điểm chưa toàn diện trước đây (như đồng nhất hiệu quả với mục tiêu lợi nhuận, xem xét phiến diện qua nhịp độ tăng trưởng, hoặc chỉ quy về tỷ lệ so sánh toán học đơn thuần). Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra định nghĩa bao quát: hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh theo chiều sâu, gắn liền với việc tính toán đầy đủ chi phí cơ hội bên cạnh chi phí kế toán.

Chương 1 đi sâu phân tích cơ chế tác động của 8 nhân tố chủ quan nội bộ và 5 nhân tố môi trường khách quan. Trong đó, tác giả nhấn mạnh vai trò của chi phí nguyên vật liệu (thường chiếm 60–70% giá thành tại các doanh nghiệp sản xuất) và công tác bảo toàn sức mua của vốn. Đồng thời, tác giả chuẩn hóa hệ thống công thức định lượng từ chỉ tiêu tổng hợp, chỉ tiêu doanh lợi, chỉ tiêu bộ phận (vốn cố định, vốn lưu động, lao động) đến các chỉ tiêu an toàn tài chính (thanh toán ngắn hạn, thanh toán nhanh, cơ cấu nguồn vốn). Tác giả cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu, không đi sâu vào một số tỷ số tài chính chi tiết khác như tỷ lệ lãi gộp hay tỷ lệ lãi thuần từ hoạt động kinh doanh.

Chương 2: Tình hình sản xuất kinh doanh tại chi nhánh hoá dầu Hải Phòng

Chương 2 trình bày quá trình phát triển của đơn vị từ khi thành lập theo Quyết định số 412/XD-QĐ ngày 28/7/1994 của Tổng giám đốc Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam với quy mô ban đầu 34 lao động, 3 phòng, 1 kho. Sau các dấu mốc mở rộng kinh doanh dung môi hóa chất (1995), đầu tư kho bể nhựa đường lỏng (1996), đổi tên thành Chi nhánh Hoá dầu Hải Phòng (1998) và đầu tư xây dựng Nhà máy dầu nhờn Thượng Lý (1999), cơ cấu tổ chức của chi nhánh được thiết lập theo mô hình hỗn hợp trực tuyến - chức năng gồm 4 cấp chỉ huy, chuyên môn hóa theo 3 ngành hàng: Dầu mỡ nhờn, Hoá chất và Nhựa đường, đồng thời áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002 do Phó Giám đốc trực tiếp chỉ đạo.

Về nguồn lực lao động, năm 2001 chi nhánh có 80 người. Trình độ đại học chiếm 35% (28 người), trung cấp chiếm 10% (8 người), lao động nữ chiếm 33,75% (27 người). Đặc điểm nhân sự là đội ngũ gắn bó lâu năm, độ tuổi bình quân cao (từ 40 tuổi trở lên). Năm 1999, chi nhánh tuyển thêm 8 lái xe phục vụ kho nhựa đường; tuy nhiên năm 2001 sản lượng nhựa đường giảm 55% khiến bộ phận lao động này dôi dư, phải chuyển đổi công việc. Về nguồn vốn, tổng vốn kinh doanh năm 1999 đạt 55.740,9 triệu đồng; năm 2000 đạt 65.401,9 triệu đồng (tăng 118,8% so với 1999); năm 2001 đạt 75.740,9 triệu đồng (tăng 115,2% so với 2000). Nguồn cung ứng nguyên vật liệu chính gồm Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, Công ty hoá dầu Hà Nội, Tổng công ty Nhựa và Công ty Sơn Hải Phòng.

Nhóm chỉ tiêu Đơn vị Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
I. Sản lượng và tiêu thụ
Xuất điều động dầu mỡ nhờn Tấn 3.520 4.486 3.495
Xuất bán dầu mỡ nhờn Tấn 3.530 2.955 2.189
Xuất điều động hoá chất Tấn 2.183 2.267 4.965
Tổng lượng xuất hàng Tấn 17.689 36.293 16.332*
II. Kết quả tài chính
Tổng doanh thu Triệu đồng 48.362 53.264 123.124
Doanh thu thuần Triệu đồng 47.878 52.514 123.124
Lợi nhuận trước thuế Triệu đồng 1.461 2.561 2.562
Lợi nhuận sau thuế Triệu đồng 636 1.651 / 1.741 1.741
Nộp ngân sách nhà nước Triệu đồng 3.994 9.270 -
III. Hiệu quả sử dụng nguồn lực
Tổng số lao động Người 69 74 80
Năng suất lao động bình quân Triệu đồng/người 700,898 719,783 1.539,050
Sức sinh lời của lao động Triệu đồng/người 9,20 22,30 21,76
Số công nhân sản xuất Người 50 55 55
Hệ số trang bị TSCĐ Triệu đồng/CN 80,48 81,30 84,25
Tỷ suất lợi nhuận / Doanh thu Lần 0,013 0,030 0,014
Tỷ suất lợi nhuận / Vốn kinh doanh Lần 0,010 0,020 0,022

(Ghi chú: Năm 2000 áp dụng thuế VAT thay cho thuế doanh thu nên doanh thu tính cả doanh số điều động. Sản lượng tổng xuất năm 2001 sụt giảm mạnh do sản lượng nhựa đường giảm 55% so với năm 2000).

Phân tích số liệu cho thấy doanh thu tăng trưởng liên tục, đặc biệt năm 2001 đạt 123.124 triệu đồng (tăng 131% so với năm 2000). Tuy nhiên, các chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên doanh thu và tỷ suất sinh lời trên vốn còn thấp (năm 2001 tỷ suất LN/DT chỉ đạt 0,014 và tỷ suất LN/vốn đạt 0,022). Nghĩa vụ nộp ngân sách năm 2000 tăng vọt lên 9.270 triệu đồng (tăng 132% so với 1999) do tỷ giá USD biến động mạnh làm tăng chi phí thuế nhập khẩu.

Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở Chi nhánh hoá dầu Hải Phòng

Theo kết cấu đề tài do tác giả công bố tại phần mở đầu, Chương 3 là phần đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong văn bản trích xuất được cung cấp, nội dung kết thúc ở trang 50 (cuối phần phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định của Chương 2). Các định hướng giải pháp được tác giả chỉ ra thông qua các tồn tại đã phân tích gồm: khắc phục tình trạng dây chuyền công nghệ chưa đồng bộ và dựa trên nền tảng cũ; đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ lao động trẻ; giải quyết tính trạng già hóa lực lượng lao động (trên 40 tuổi); hoàn thiện công tác nghiên cứu dự báo thị trường nhằm tránh biến động sản lượng và dư thừa lao động lái xe như trường hợp kinh doanh nhựa đường năm 2001.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh các kết quả định lượng cụ thể về hoạt động của Chi nhánh hoá dầu Hải Phòng:

  • Doanh thu kinh doanh tăng trưởng qua các năm: từ 48.362 triệu đồng (năm 1999) lên 53.264 triệu đồng (năm 2000) và đạt 123.124 triệu đồng (năm 2001). Năng suất lao động tính theo doanh thu bình quân tăng từ 700,898 triệu đồng/người (năm 1999) lên 1.539,050 triệu đồng/người (năm 2001).
  • Trang bị kỹ thuật cho sản xuất được tăng cường: Hệ số trang bị tài sản cố định cho công nhân sản xuất tăng từ 80,48 triệu đồng/người (năm 1999) lên 81,30 triệu đồng/người (năm 2000) và 84,25 triệu đồng/người (năm 2001).
  • Nhận diện các điểm nghẽn hiệu quả: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu biến động ở mức thấp (0,013 năm 1999; 0,030 năm 2000 và 0,014 năm 2001); tỷ suất sinh lời trên vốn kinh doanh đạt lần lượt 0,010; 0,020 và 0,022, phản ánh mức sinh lời từ vốn chưa cao do chiến lược kinh doanh chưa hoàn thiện.
  • Xác định những hạn chế nội tại: Cơ sở vật chất thiết bị chưa đồng bộ; đội ngũ lao động có tuổi bình quân cao (từ 40 tuổi trở lên); công tác nghiên cứu thị trường nhựa đường năm 2001 chưa bắt kịp sự cạnh tranh của các doanh nghiệp mới tham gia thị trường, dẫn đến sản lượng giảm 55% và dôi dư lao động vận tải.

Về đóng góp học thuật và thực tiễn, tác giả đã vận dụng lý luận kinh tế doanh nghiệp để xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích phù hợp với loại hình chi nhánh trực thuộc tổng công ty kinh doanh ngành hàng đặc thù (dầu nhờn, hóa chất, nhựa đường), cung cấp bức tranh số liệu thực tế về quá trình chuyển đổi mô hình kinh doanh và tổ chức lao động tại đơn vị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do chính tác giả thừa nhận và giới hạn tư liệu:

  • Do thời gian thực tế chưa nhiều và khả năng nghiên cứu có hạn, tác giả chủ động giới hạn phạm vi, không phân tích chuyên sâu một số chỉ tiêu tài chính như tỷ lệ lãi gộp hay tỷ lệ lãi thuần từ hoạt động kinh doanh.
  • Phạm vi số liệu thực nghiệm dừng lại ở giai đoạn 1998–2001. Văn bản trích xuất chưa thể hiện chi tiết nội dung văn bản của Chương 3.
  • Hướng nghiên cứu tiếp có thể mở rộng: Đi sâu phân tích cơ cấu chi phí sản xuất và giá thành từng ngành hàng cụ thể (dầu mỡ nhờn, hóa chất, nhựa đường); đánh giá tác động của biến động tỷ giá hối đoái tới chi phí nhập khẩu nguyên liệu; hoàn thiện mô hình dự báo nhu cầu thị trường đối với các sản phẩm xây dựng cơ bản.

Giá trị tham khảo

Tài liệu cung cấp nguồn tư liệu thực tế cho sinh viên và học viên chuyên ngành Kinh tế doanh nghiệp, Quản trị kinh doanh và Tài chính doanh nghiệp. Khóa luận có giá trị tham khảo rõ nét ở các khía cạnh:

  • Phương pháp luận xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh toàn diện, kết hợp chỉ tiêu tổng hợp, chỉ tiêu bộ phận (vốn, lao động, TSCĐ) và chỉ tiêu an toàn tài chính.
  • Thực tiễn chuyển đổi cơ cấu tổ chức theo mô hình trực tuyến - chức năng theo 3 ngành hàng (dầu nhờn, hoá chất, nhựa đường) và áp dụng tiêu chuẩn chất lượng ISO 9002 tại một chi nhánh doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn đầu mở cửa thị trường.

Câu hỏi thường gặp

Chi nhánh hoá dầu Hải Phòng được thành lập trên cơ sở pháp lý nào và tiền thân là đơn vị gì?

Chi nhánh hoá dầu Hải Phòng được thành lập theo Quyết định số 412/XD-QĐ ngày 28/7/1994 của Tổng giám đốc Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam với tên gọi ban đầu là Chi nhánh dầu nhờn Hải Phòng. Đơn vị được tách ra từ các bộ phận cung cấp dầu mỡ nhờn thuộc Công ty Xăng dầu khu vực III và trực thuộc Công ty Dầu nhờn, quy mô ban đầu gồm 34 lao động, tổ chức thành 3 phòng và 1 kho.

Cơ cấu lao động của Chi nhánh năm 2001 có những biến động nào đáng chú ý so với giai đoạn trước?

Đến cuối năm 2001, tổng số lao động của chi nhánh là 80 người (tăng 46 người so với lúc mới bàn giao). Tỷ lệ lao động có trình độ đại học tăng lên 35% (28 người), trung cấp chiếm 10% (8 người), đồng thời tỷ lệ lao động nữ giảm từ 57,9% (năm 2000) xuống còn 33,75% (năm 2001). Đặc điểm nổi bật là lao động quản lý trình độ cao chiếm tỷ trọng khá, song độ tuổi bình quân của công nhân khá cao (từ 40 tuổi trở lên).

Vì sao số tiền nộp ngân sách nhà nước của Chi nhánh năm 2000 tăng vọt lên 9.270 triệu đồng?

Theo giải trình trong văn bản, số tiền nộp ngân sách năm 2000 tăng vọt lên 9.270 triệu đồng (tăng 5.276 triệu đồng, tương ứng mức tăng 132% so với năm 1999) là do trong năm 2000 tỷ giá đồng đô la Mỹ (USD) tăng mạnh, khiến một số mặt hàng nhập khẩu của chi nhánh phải chịu số thuế nhập khẩu cao hơn nhiều so với các năm trước.

Nguyên nhân nào khiến sản lượng tiêu thụ nhựa đường của Chi nhánh sụt giảm trong năm 2001?

Năm 2001, sản lượng nhựa đường của chi nhánh giảm 55% so với năm 2000 do trên thị trường xuất hiện nhiều doanh nghiệp cùng đầu tư kinh doanh mặt hàng này, làm gia tăng áp lực cạnh tranh. Công tác nghiên cứu và nắm bắt thị trường của chi nhánh chưa kịp thời thích ứng, dẫn đến việc không hoàn thành kế hoạch tiêu thụ và gây dư thừa lực lượng 8 lái xe đã tuyển dụng từ năm 1999.

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu và tỷ suất sinh lời trên vốn của Chi nhánh giai đoạn 1999–2001 biến động ra sao?

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đạt 0,013 lần (năm 1999), tăng lên 0,030 lần (năm 2000) và giảm xuống 0,014 lần (năm 2001). Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đạt 0,010 lần (năm 1999), tăng lên 0,020 lần (năm 2000) và 0,022 lần (năm 2001). Các chỉ tiêu này cho thấy mức sinh lời của chi nhánh có xu hướng tăng nhưng biên độ tăng còn thấp so với quy mô tăng trưởng vốn và doanh thu.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh và phân tích chi tiết thực trạng hoạt động của Chi nhánh hoá dầu Hải Phòng trong giai đoạn 1998–2001. Nghiên cứu phản ánh sự tăng trưởng về doanh thu và nguồn vốn qua các năm, đồng thời chỉ ra các hạn chế trong khai thác nguồn lực, biến động sản lượng do áp lực cạnh tranh và tỷ suất sinh lời trên vốn còn thấp. Đây là tài liệu phản ánh trung thực quá trình chuyển đổi mô hình quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh của một đơn vị nhà nước ngành xăng dầu - hóa dầu thời kỳ đầu hội nhập kinh tế.