CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VỐN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI NIỆM VỐN CỐ ĐỊNH 1.1 Khái niệm vốn cố định Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kì sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Vốn cố định trong doanh nghiệp bao gồm: giá trị TSCĐ, số tiền đầu tư tài chính dài hạn, chi phí XDCB dở dang,… Khái niệm tài sản cố định trong doanh nghiệp Tư liệu lao động là một trong những yếu tố không thể thiếu khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tài sản cố định. Các tư liệu lao động được xếp vào tài sản cố định phải có đủ các tiêu chuẩn sau : - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai - Nguyên giá phải được xác định một cách đáng tin cậy - Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên.
- Phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định. Tiêu chuẩn này được quy định riêng đối với từng nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với mức giá cả của từng thời kỳ ( hiện nay là 10. Từ những nội dung được trình bày ở trên, có thể rút ra khái niệm về tài sản cố định như sau : Tài sản cố định (TSCĐ) trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu và những tài sản khác có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sinh viên: Lê Thị Hồng Nhung 8 Lớp: K14B - TCNH Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Lê Hoằng Bá Huyền Phân loại tài sản cố định Phân loại tài sản cố định là việc phân chia toàn bộ tài sản cố định hiện có của doanh nghiệp theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ yêu cầu quản lí của doanh nghiệp. * Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện : Theo phương pháp này toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được chia làm hai loại sau: - Tài sản cố định hữu hình: Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kì kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải. - Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như chí phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về mua bằng phát minh sáng chế, bản quyền tác giả. * Các hình thức phân loại khác Phân loại tài sản cố định theo mục đích sử dụng : - Tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh - Tài sản cố định dùng ngoài sản xuất kinh doanh Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng : - Tài sản cố định đang sử dụng - Tài sản cố định chưa cần dùng - Tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý 1.2 Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định Vốn cố định luân chuyển và vận động theo đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ sản xuất.
Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định được luân Sinh viên: Lê Thị Hồng Nhung 9 Lớp: K14B - TCNH Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Hoằng Bá Huyền chuyển vào cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức khấu hao) tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ. Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.3 Nguồn hình thành vốn cố định Đầu tư vào tài sản cố định là một sự bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những TSCĐ cần thiết để thực hiện mục tiêu kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp.
Do đó việc xác định nguồn tài trợ cho những khoản mục đầu tư như vậy là rất quan trọng bởi vì nó có yếu tố quyết định cho việc quản lí vốn cố định sau này 1. Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp Vốn do Ngân sách Nhà nước Vốn do ngân sách Nhà nước cấp được cấp phát cho các doanh nghiệp nhà nước. Ngân sách chỉ cấp một bộ phận vốn ban đầu khi các doanh nghiệp này mới bắt đầu hoạt động. Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải bảo toàn vốn do nhà nước cấp.
Ngoài ra các doanh nghiệp thuộc mọi tầng lớp, thành phần kinh tế cũng có thể chọn được nguồn tài trợ từ phía nhà nước trong một số trường hợp cần thiết, những khoản tài trợ này thường không lớn và cũng không phải thường xuyên do đó trong một vài trường hợp hết sức khó khăn, doanh nghiệp mới tìm đến nguồn tài trợ này. Bên cạnh đó, nhà nước cũng xem xét trợ cấp cho các doanh nghiệp nằm trong danh mục ưu tiên. Hình thức hỗ trợ có thể dưới dạng cấp vốn bằng tiền, bằng tài sản hoặc ưu tiên giảm thuế, miễn phí,… Vốn tự có của doanh nghiệp - Đối với các doanh nghiệp mới hình thành, vốn tự có là vốn do các doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp, chủ đầu tư bỏ ra để đầu tư và mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Số vốn tự có nếu là vốn dùng để đầu tư thì phải đạt được một tỷ lệ bắt buộc trong tổng vốn đầu tư và nếu là vốn tự có của công ty, doanh nghiệp tư nhân thì không được thấp hơn vốn pháp định.
- Những doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, vốn tự có còn được hình thành từ một phần lợi nhuận bổ sung, để mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh Sinh viên: Lê Thị Hồng Nhung 10 Lớp: K14B - TCNH Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Hoằng Bá Huyền nghiệp. Thực tế cho thấy từ tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là một con đường tốt. Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng tính chất tái đầu tư từ số lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng.
Tuy nhiên với các công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận có liên quan đến một số khía cạnh khá nhạy cảm. Bởi khi công ty để lại lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần. Các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần nhưng bù lại họ có quyền sở hữu số vốn tăng lên của công ty. Tuy nhiên, nó dễ gây ra sự kém hấp dẫn của cổ phiếu do cổ đông chỉ được nhận được một phần nhỏ cổ phiếu và do đó giá cổ phiếu có thể bị giảm sút.
Vốn cổ phần Nguồn này hình thành do những người sáng lập công ty phát hành cổ phiếu và bán những cổ phiếu này trên thị trường mà có được nguồn vốn nhất định. Trong quá trình hoạt động, nhằm tăng thực lực của doanh nghiệp, các nhà lãnh đạo có thể sẽ tăng lượng cổ phiếu phát hành trên thị trường thu hút lượng tiền nhàn rỗi phục vụ cho mục tiêu kinh doanh. Đặc biệt để tài trợ cho các dự án đầu tư dài hạn, thì nguồn vốn cổ đông rất quan trọng. Nó có thể kêu gọi vốn đầu tư với khối lượng lớn và nó cũng khá linh hoạt trong việc trao đổi trên thị trường vốn.
Tận dụng các cơ hội đầu tư để được cả hai giá mà người đầu tư và doanh nghiệp phát hành chấp nhận.Tuy nhiên, việc phát hành cổ phiếu thêm trong quá trình hoạt động đòi hỏi các nhà quản lí tài chính phải cực kì thận trọng và tỉ mỉ trong việc đánh giá các nhân tố có liên quan như: uy tín của công ty, lãi suất thị trường, mức lạm phát, tỷ lệ cổ tức, tình hình tài chính công ty gần đây. Để đưa ra thời điểm phát hành tối ưu nhất, có lợi nhất trong công ty.2 Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp Vốn vay Mỗi doanh nghiệp dưới các hình thức khác nhau tùy theo quy định của luật pháp mà có thể vay vốn từ các đối tượng: Nhà nước, ngân hàng, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, dân cư trong và ngoài nước dưới các hình thức như tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, vốn chiếm dụng, phát hành các loại chứng Sinh viên: Lê Thị Hồng Nhung 11 Lớp: K14B - TCNH Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Hoằng Bá Huyền khoán của doanh nghiệp với các kỳ hạn khác nhau. Nguồn vốn huy động này chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố sau: hiệu quả kinh doanh, khả năng trả nợ, lãi suất vay, số lượng vốn đầu tư có.
Tỷ lệ lãi vay càng cao sẽ tạo điều kiện cho phía doanh nghiệp huy động vốn càng nhiều nhưng lại ảnh hưởng đến lợi tức cùng với khả năng thanh toán vốn vay và lãi suất tiền đi vay. Vốn liên doanh Nguồn vốn này hình thành bởi sự góp vốn giữa các doanh nghiệp hoặc chủ doanh nghiệp ở trong nước và nước ngoài để hình thành một doanh nghiệp mới. Mức độ vốn góp giữa các doanh nghiệp với nhau tùy thuộc vào thỏa thuận giữa các bên tham gia liên doanh. Tài trợ bằng thuê (thuê vốn) Các doanh nghiệp muốn sử dụng thiết bị và kiến trúc hơn là muốn mang danh làm chủ sở hữu thì có thể sử dụng thiết bị bằng cách thuê mướn hay còn gọi là thuê vốn.
Thuê mướn có nhiều hình thức mà quan trọng nhất là hình thức bán rồi thuê lại, thuê dịch vụ và thuê tài chính. - Bán rồi thuê lại: Theo phương thức này, một doanh nghiệp sở hữu đất đai kiến trúc và thiết bị bán tài sản lại cho cơ quan tín dụng và đồng thời kí một thỏa ước thuê lại các tài sản trên trong một thời hạn nào đó. Nếu là đất đai hay kiến trúc, cơ quan tín dụng thường là một công ty bảo hiểm. Nếu tài sản là máy móc, thiết bị người cho thuê có thể là một ngân hàng thương mại, môt công ty bảo hiểm hay một công ty chuyên cho thuê mướn.
Lúc này người bán (hay người thuê) nhận ngay được một số vốn do việc bán lại tài sản cho người mua (hay người cho thuê). Đồng thời người bán và người mua cùng duy trì việc sử dụng tài sản trên trong suốt thời hạn thuê mướn.