CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nợ thuế 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp ngoài quốc doanh Kinh tế ngoài quốc doanh là loại hình kinh tế khá phong phú, bao gồm mọi loại hình kinh doanh cá thể, tổ hợp, hợp tác xã , công ty tnhh, công ty cổ phần… hoạt động trên tất cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. với lĩnh vực tham gia rộng rãi như vậy, kinh tế ngoài quốc doanh đã tạo một phần không nhỏ gdp, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước, thu hút lao động xã hội, tận dụng, khai thác tiềm năng của đất nước. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là các đơn vị kinh doanh có tính chất tư hữu (không kể các đơn vị đầu tư nước ngoài) không thuộc sở hữu của nhà nước. Toàn bộ nguồn vốn, tài sản, lợi nhuận và tài sản của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đề thuộc sở hữu tư nhân hoặc thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, tập thể người lao động và họ có toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh củ mình sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước.
Đồng thời, doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng không chịu sự chi phối nào từ các quyết định của nhà nước hay các cơ quan quản lý. Xét về loại hình doanh nghiệp bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và các đơn vị theo hình thức hợp tác xã. Trong những năm gần đây quan điểm phát triển kinh tế nước ta bằng con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân đòi hỏi sự khác nhau của các thành phần kinh tế. Số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tăng lên nhanh chóng và tham gia ngày càng tích cực vào thị trường, làm tăng sự sôi động trong nền kinh tế.2 Khái niệm về nợ thuế và quản lý nợ thuế Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý.
Nhìn chung, quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát kế hoạch ấy. 8 Quản lý thuế là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh vực thuế được thực hiện thông qua việc xây dựng chính sách về thuế và về quản lý thu thuế; xây dựng chiến lược về quản lý thuế 05 năm, 10 năm và kế hoạch hàng năm; tổ chức, điều hành và giám sát nhằm đảm bảo người nộp thuế (NNT) chấp hành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật[7]. Quản lý nợ thuế là hoạt động của cơ quan thuế nhằm thực hiện đôn đốc số thuế mà NNT đã kê khai, cơ quan thuế đã tính, các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế, cơ quan thuế xác định đây là nghĩa vụ của NNT và đã thông báo cho NNT nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN.
Cưỡng chế nợ thuế (CCNT) là biện pháp cuối cùng của quy trình đôn đốc, thu tiền thuế nợ vào NSNN, được áp dụng các biện pháp theo Luật định buộc người nợ thuế đã quá thời hạn chấp hành hoặc hoãn chấp hành các Quyết định hành chính thuế nộp đủ tiền nợ thuế vào NSNN. Đối với cán bộ thuế, Quản lý nợ thuế (QLNT) bao gồm: xác định đối tượng nợ thuế, phân loại tiền thuế nợ theo tính chất nợ, xác định số tiền thuế còn nợ và thực hiện các bước đôn đốc thu tiền thuế nợ. Nhiệm vụ chủ yếu là kiểm tra, nhắc nhở tính tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT và áp dụng các khoản phạt chậm nộp tiền thuế theo luật quản lý thuế đối với những người nợ thuế, thực hiện các nghiệp vụ xử lý nợ thuế như gia hạn nộp thuế, xoá nợ tiền thuế, miễn phạt chậm nộp. Đối với cơ quan thuế, QLNT là một quá trình: xây dựng chương trình, mục tiêu, chính sách, lập chỉ tiêu thu nợ hàng năm, chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về QLNT, xây dựng các chính sách về QLNT, xây dựng đội ngũ cán bộ QLNT, cơ sở vật chất kỹ thuật và một cơ cấu tổ chức thích hợp, duy trì một hệ thống thông tin để đảm bảo quản lý đầy đủ về đối tượng nợ thuế; thực hiện các thủ tục và quy trình quản lý để phân loại đôn đốc và phạt chậm nộp tiền thuế; xem xét, giải quyết văn bản đề nghị xoá nợ, gia hạn nộp thuế; đề xuất các biện pháp và giải pháp quản lý thu nợ trên địa bàn quản lý.
9 Quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do CQT quản lý, thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ của người nộp thuế. Liên quan đến nợ thuế và QLNT cần hiểu thêm các khái niệm sau (Quyết định số 1401/QĐ-TCT ngày 28 tháng 7 năm 2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế) Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, tiền chậm nộp và các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà người nộp thuế đã kê khai, CQT đã tính; các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho CQT, CQT xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuế và đã thông báo cho người nộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN. Tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, tiền chậm nộp và các khoản phải nộp khác người nộp thuế đã nộp nhưng có một số sai sót trên chứng từ nộp tiền hoặc chứng từ chậm luân chuyển hoặc thất lạc, chờ ghi thu - ghi chi; CQT đang điều chỉnh theo đúng quy định. Người nợ thuế là các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế có khoản thuế nợ.
Khoản nợ là số tiền thuế nợ được xác định theo từng lần phát sinh. Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào NSNN. Tiền phạt vi phạm pháp luật thuế là khoản tiền phạt do vi phạm thủ tục thuế; khai sai số thuế phải nộp hoặc được hoàn; trốn thuế, gian lận trong hoàn thuế.3 Vai trò của quản lý nợ thuế QLNT có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế (QLT). Cụ thể là: QLNT giúp CQT quản lý, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế nộp các khoản thuế đầy đủ, kịp thời vào NSNN; đảm bảo công bằng xã hội khi các cơ sở kinh doanh cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì đều phải nộp vào NSNN đúng hạn.
10 QLNT đảm bảo quản lý tất cả các khoản thuế mà các cá nhân, tổ chức nộp thuế (gọi chung là người nộp thuế (NNT) phải nộp theo quy định của pháp luật thuế, chống thất thoát NSNN. Quản lý nợ tốt sẽ nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thuế, góp phần nâng cao hiệu quả các chức năng khác: Quản lý kê khai thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, vì thông qua nó xác định chính xác nghĩa vụ thuế nhưng điều quan trọng là nghĩa vụ thuế được xác định đó phải được thực hiện và điều này được thực hiện thông qua công tác đôn đốc thu nộp thuế, một nội dung quan trọng của công tác QLNT. QLNT tốt cũng tạo ra một kênh thông tin đúng đắn để xử lý các khoản nợ thuế của NNT một cách chính xác, thông qua đó, có biện pháp xử lý phù hợp nợ thuế để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của NNT.4 Yêu cầu của công tác quản lý nợ thuế Phải quản lý đầy đủ, không bỏ sót các khoản nợ thuế: Trong QLT thì yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất là phải quản lý đầy đủ, không bỏ sót các khoản thu của NSNN, vì nếu quản lý không chặt chẽ, không bao quát hết các khoản thu sẽ gây thất thu cho NSNN, làm biến dạng tính đồng bộ của hệ thống chính sách thuế. Là một nội dung, một chức năng trong QLT, QLNT cũng phải bao quát đầy đủ, không bỏ sót các khoản nợ.
Phải đảm bảo quản lý chính xác các khoản nợ để CQT có các biện pháp quản lý phù hợp. Để thực hiện yêu cầu này, bên cạnh việc phân loại nợ theo các tiêu thức đã trình bày ở phần trên thì các tiêu thức phân loại phải được kết hợp với nhau một cách hợp lý; qua đó CQT sẽ đánh giá, xem xét và đưa ra các biện pháp thu nợ phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực, trong từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội. Phải đảm bảo thu nợ kịp thời, tránh thất thoát NSNN 1.5 Quy trình quản lý nợ thuế Toàn bộ nội dung và quy trình quản lý nợ thuế hiện hành đang áp dụng tại Chi cục Thuế địa bàn thành phố Hưng Yên cũng như ở trên toàn lãnh thổ Việt Nam được căn cứ theo Quyết định số 1401/QĐ-TCT ngày 28/7/2018 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành quy trình quản lý nợ thuế.