Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Ở ngoài nước Theo FAO (2005), trên toàn thế giới có hơn 350 triệu ha diện tích rừng và đồng cỏ bị đốt cháy mà trong đó có đến 95% nguyên nhân xuất phát từ các hoạt động của con người, đó là các hoạt động như mở rộng sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở các nước đang phát triển; tăng cường sử dụng rừng cho các mục đích giải trí và du lịch ở các nước phát triển và đang phát triển. Để hạn chế tình trạng mất rừng do cháy rừng và việc dùng lửa thực sự đem lại hiệu quả tích cực thì cần phải nâng cao nhận thức cho cộng đồng về công tác PCCCR, trong đó cộng đồng chính là người trực tiếp tham gia vào công tác quản lý, tổ chức và thực hiện việc PCCCR. Mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư hay mô hình quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện.
Thuật ngữ quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng (CBFIM) được đặt ra bởi Sameer Karki tại Trung tâm đào tạo Lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC) tại Bangkok, Thái Lan năm 2000. Kể từ khi thuật ngữ này được công nhận đã có nhiều bài báo, phân tích, nghiên cứu, các chương trình đào tạo về vấn đề này được triển khai tại nước này. Zhang và các cộng sự (2003) định nghĩa quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng như một cách tiếp cận trong đó người dân có sự hiểu biết sâu sắc về phòng cháy chữa cháy và tự nguyện tham gia trong việc quản lý lửa. Mô hình quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng cũng đã được thực hiện ở một số nước trên thế giới trong đó có các nước Châu Phi, Mỹ la tinh, Bắc Mỹ, Úc, Ấn độ, Philippin… - Tại Namiba 3 4 Năm 1996, Cục Lâm nghiệp thuộc Bộ môi trường và Du lịch chọn khu vực Caprivi (đông bắc Namibia) là khu vực thí điểm để phát triển một mô hình kiểm soát cháy rừng dựa vào cộng đồng (Jurvelius, 1999; Kamminga, 2001).
Khu vực thí điểm bao gồm 1,2 triệu ha tài nguyên rừng tốt nhất của Namibia và thuộc khu vực cận nhiệt đới. Hầu hết các khu vực này là đất của địa phương, nhưng một phần quan trọng là rừng của nhà nước, công viên quốc gia và khu bảo tồn động vật hoang dã. Trước khi bắt đầu dự án, 70-80% rừng trong khu vực thí điểm bị cháy mỗi năm và hầu hết các vụ cháy là do con người. Chương trình đã thu hút sự tham gia của rất nhiều người dân địa phương, họ tham gia ở các hoạt động khác nhau như: tham dự chương trình phim truyền hình, học hỏi làm thế nào để chống cháy.
Những nỗ lực này đã làm giảm 54 % những diện tích bị cháy hàng năm trong khu vực. Cuộc khảo sát cũng kết luận rằng chính phủ nên chuyển giao trách nhiệm và thẩm quyền phòng cháy chữa cháy rừng cho người dân. - Tại Ấn độ Ở Ấn Độ, ủy ban quản lý rừng đã được thành lập ở cấp thôn bản liên quan đến người dân trong bảo vệ và bảo tồn rừng.165 ủy ban trong cả nước, bao phủ một diện tích hơn 10. Các ủy ban cũng đã được trao trách nhiệm bảo vệ và phòng chống cháy rừng.
Với mục đích này, kế hoạch kiểm soát cháy rừng hiện đại đang được sửa đổi và các ủy ban này là một phần không thể thiếu trong chiến lược phòng chống cháy rừng hiện nay ở Ấn độ bởi việc PCCCR bằng máy bay đã thực sự chưa hiệu quả và khá tốn kém. - Tại Philipin Để thúc đẩy và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng, mục tiêu của chương trình là: 4 5 - Tổ chức và tăng cường thành viên cộng đồng để họ có thể làm việc hướng tới một nỗ lực chung; - Tăng cường ý chí chính trị của cộng đồng và các đơn vị chính quyền địa phương đối với việc bảo tồn/ bảo vệ tài nguyên rừng; - Kết hợp các sáng kiến bảo tồn/ bảo vệ rừng vào nỗ lực phát triển ở cấp cộng đồng. Để đạt được những mục tiêu này, các mục tiêu cụ thể được quy định như sau: - Giới hạn/ ngăn chặn, nếu không hoàn toàn loại trừ, sự xuất hiện của cháy rừng ở các cộng đồng của tỉnh; - Điều chỉnh việc sử dụng lửa của nông dân thông qua việc cấp giấy phép để theo dõi; - Theo dõi và ghi lại các lần xuất hiện của lửa tại các khu vực rừng của mỗi cộng đồng một cách thường xuyên; - Tiếp tục điều tra nguyên nhân vụ cháy và đề xuất chính sách cho các cơ quan có liên quan để xử lý. Một cách thức khác của chiến lược này đó là huy động tất cả các cộng đồng tham gia vào kế hoạch khen thưởng.
Đó là cộng đồng nào không để xảy ra cháy rừng, không khai thác gỗ bất hợp pháp hoặc ít bị cháy rừng sẽ được khen thưởng trị giá 200. Có thể thấy rằng mặc dù các phương pháp và phương tiện phòng chống cháy rừng đã được phát triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống phòng chống cháy rừng hiện đại như Mỹ, Úc, Nga v.v… Trong nhiều trường hợp việc khống chế các đám cháy vẫn không hiệu quả. Người ta cho rằng, ngăn chặn nguồn lửa để không xảy ra cháy vẫn là quan trọng nhất. Vì vậy, đã có những nghiên cứu về đặc điểm xã hội của cháy rừng và những giải pháp xã 5 6 hội cho phòng chống cháy rừng (Cooper, 1991).
Hiện nay, các giải pháp xã hội phòng chống cháy rừng chủ yếu được tập trung vào tuyên truyền, giáo dục tác hại của cháy rừng, nghĩa vụ của công dân trong việc phòng chống cháy rừng, những hình phạt đối với người gây cháy rừng. Trong thực tế còn ít những nghiên cứu về ảnh hưởng của thể chế và chính sách quản lý sử dụng tài nguyên, chính sách chia sẻ lợi ích, những quy định của cộng đồng, những phong tục, tập quán, những nhận thức và kiến thức của người dân đến cháy rừng. Cũng còn rất ít những mô hình phòng cháy chữa cháy rừng do chính cộng đồng bản địa tổ chức và thực hiện, hoặc có nhưng nó vẫn thuộc các chương trình và có sự tác động của bên ngoài cũng như từ các chính sách của nhà nước mà chưa phải là các mô hình do chính cộng đồng tự khởi xướng và thực hiện vì chính bản thân họ. Rất ít những nghiên cứu, đánh giá hay các mô hình cho thấy được cộng đồng địa phương là những người quan trọng nhất, có vai trò lớn nhất trong việc phòng cháy chữa cháy rừng.
Đây sẽ là những căn cứ quan trọng để xây dựng giải pháp kinh tế - xã hội cho phòng chống cháy rừng. Ở trong nước - Về công tác PCCCR nói chung Những năm qua Nhà nước ngày càng quan tâm chỉ đạo và đầu tư cho công tác PCCCR, Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy rừng từng bước được hoàn thiện. Cụ thể đã ban hành các văn bản như: - Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg ngày 16/5/2003 vê việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng; - Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép; 6 7 - Chỉ thị số 3318/CT-BNN-KL, ngày 06/11/2008, của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, về việc tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác bảo vệ rừng, PCCCR và chống người thi hành công vụ; - Chỉ thị số 3767/CT-BNN-KL ngày 18/11/2009 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR mùa khô 2009 - 2010; - Chỉ thị số 270/2010/CT-TTg ngày 12/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng; - Chỉ thị số 25/CT-BNN-TCLN ngày 06/01/2011 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc triển khai các biện pháp bảo vệ rừng và PCCCR; - Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; - Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng; - Công điện số 300/CĐ-TTg ngày 06/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phòng cháy, chữa cháy rừng. - Ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các Chi cục Kiểm lâm ở địa phương tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng hoặc trình cấp có thẩm quyền tổ chức chức các hội nghị, cuộc họp toàn quốc triển khai các Chỉ thị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Có thể thấy rằng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy rừng từng bước được hoàn thiện; chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng được thể chế hoá. Ban chỉ đạo Trung ương về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR (nay là Ban chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng); Ban Chỉ huy PCCCR cấp tỉnh, 7 8 huyện, xã ở những nơi có nhiều rừng được thành lập và đi vào hoạt động có hiệu quả. Vai trò của chủ rừng bước đầu được tăng cường. Ý thức của cộng đồng và toàn xã hội về PCCCR có chuyển biến tích cực.
Kinh nghiệm chỉ đạo, điều hành và kiểm tra, kiểm soát cháy rừng của chính quyền các cấp và lực lượng chữa cháy rừng từng bước được cải thiện. Phương châm 4 tại chỗ trong chữa cháy rừng đã được quán triệt và phát huy hiệu quả. Những tiến bộ trong công tác PCCCR nói trên đã góp phần giảm thiểu nguy cơ cháy rừng trong thời gian qua. Ở hầu hết các địa phương đều đã được thành lập các ban chỉ huy PCCCR các cấp, tổ đội PCCCR cấp thôn bản và từng bước đi vào hoạt động có quy củ, sẵn sàng tham gia PCCCR.
- Một số các nghiên cứu về cháy rừng trong nước Năm 1988, Phạm Ngọc Hưng đã đưa ra phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo số ngày khô hạn liên tục. Ông xây dựng một bảng tra cấp nguy hiểm của cháy rừng căn cứ vào số ngày khô hạn liên tục cho các mùa khí hậu trong năm.