Thẩm định quy trình phân tích nhóm amino trong các polime sinh học dùng để biến tính bề mặt nanosilica nhằm tăng hiệu quả mang thuốc chống ung thư doxorubicin

Nghiên cứu quy trình phân tích nhóm amino trong polime sinh học nhằm cải thiện hiệu quả mang thuốc doxorubicin trên bề mặt nanosilica.

Chuyên ngành

Công Nghệ - Kĩ Thuật Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2022

90
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. VẬT LIỆU MANG THUỐC

1.1. Khái niệm

1.2. Các loại hạt mang thuốc

1.3. Một số vật liệu nano dẫn truyền thuốc

1.3.1. Nguồn gốc silica

1.3.2. Vật liệu Nanosilica dẫn truyền thuốc

1.3.3. Ứng dụng vật liệu nano

2. THUỐC UNG THƯ DOXORUBICIN – DOX

2.1. Giới thiệu về Doxorubicin

2.2. Tính chất của Doxorubicin

3. GELATIN

3.1. Nguồn gốc về gelatin

3.2. Cấu tạo của Gelatin

3.2.1. Thành phần hóa học

3.2.2. Cấu trúc phân tử gelatin

3.2.3. Tính chất vật lý của Gelatin

3.2.4. Tính chất hóa lý của Gelatin

3.3. Khả năng tạo hệ gel của Gelatin

3.4. Ứng dụng của hệ gelatin trong lĩnh vực y học

4. TỔNG QUAN VỀ CHITOSAN

4.1. Giới thiệu về chitosan

4.2. Nguồn gốc về Chitosan

4.3. Cấu trúc hóa học của Chitosan

4.4. Tính chất vật lí

4.5. Tính chất hóa học của Chitosan

4.6. Ứng dụng của Chitosan trong ngành công nghiệp

4.6.1. Công nghiệp sản xuất nước hoa quả

4.6.2. Được sử dụng làm thành phần trong thực phẩm chức năng

4.6.3. Ứng dụng vào khả năng thu hồi protein

4.6.4. Ứng dụng trong y học

4.6.5. Ứng dụng trong công nghiệp

4.6.6. Ứng dụng trong nông nghiệp

4.6.7. Ứng dụng trong công nghệ môi trường

5. NINHYDRIN

5.1. Giới thiệu về ninhyrin

5.2. Tính chất vật lý

5.3. Tính chất hóa học

5.4. Ứng dụng của Ninhydrin

6. TỔNG QUAN VỀ L-METHIONINE

6.1. Giới thiệu về L-methionine

6.2. Tính chất vật lý

7. CƠ CHẾ PHẢN ỨNG CỦA NINHYDRIN VỚI L-METHIONIN

8. NGUYÊN LÍ HOẠT ĐỘNG CỦA MÁY QUANG PHỔ UV-VIS

8.1. Máy một chùm tia

8.2. Máy hai chùm tia

8.3. Cấu tạo về máy

9. TỔNG QUAN VỀ THẨM ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP

9.1. Thẩm định phương pháp là gì

9.2. Thẩm định phương pháp hóa học

9.3. Các thông số trong phương pháp hóa học cần thẩm định

9.3.1. Khoảng tuyến tính và đường chuẩn

9.3.2. Giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ)

10. HÓA CHẤT VÀ DỤNG CỤ

11. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

11.1. Phương pháp

11.1.1. Xác định NH2 bằng ninhyrin bằng chất chuẩn L-Methionin và khảo sát các thông số tối ưu của phức

11.1.2. Cách pha các dung dịch trong đường chuẩn

11.2. Phân tích mẫu

11.2.1. Tiến hành hiệu suất thu hồi

11.2.2. Mẫu PNS-NH2

11.2.3. Mẫu PNS-Gelatin

11.2.4. Mẫu PNS-Chitosan-mPEG

11.3. Tiến hành độ lặp lại

12. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

12.1. Kết quả khảo sát các thông số tối ưu của quy trình phân tích

12.1.1. Khảo sát bước sóng hấp thu cực đại

12.1.2. Khảo sát ảnh hưởng của pH

12.1.3. Khảo sát tỉ lệ DMSO: đệm acetate

12.1.4. Khảo sát tỉ lệ dung môi ethanol: nước

12.1.5. Khảo sát tỉ lệ dung môi methanol: nước

12.1.6. Khảo sát thời gian phản ứng

12.1.7. Khảo sát thời gian bền màu

12.2. Phân tích mẫu

12.2.1. Mẫu PNS-NH2

12.2.2. Mẫu PNS-Gelatin

12.2.3. Mẫu PNS-Chitosan-MPEG

12.3. Hiệu suất thu hồi

12.3.1. Mẫu PNS-NH2

12.3.2. Mẫu PNS-Gelatin

12.3.3. Mẫu PNS-Chitosan-mPEG

12.4. Mẫu PNS-NH2

12.5. Mẫu PNS-Gelatin

12.6. Mẫu PNS-Chitosan-mPEG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiệu quả mang thuốc chống ung thư doxorubicin

Ung thư là một trong những bệnh lý nghiêm trọng nhất hiện nay, với tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng. Việc điều trị ung thư thường sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó hóa trị liệu với thuốc doxorubicin là một trong những phương pháp phổ biến. Tuy nhiên, hiệu quả của doxorubicin thường bị hạn chế do tính độc hại và khả năng phân phối không đồng đều trong cơ thể. Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc sử dụng nanosilica có thể cải thiện đáng kể hiệu quả mang thuốc doxorubicin, nhờ vào khả năng điều chỉnh bề mặt và tính chất vật lý của nanosilica.

1.1. Nanosilica trong y học và ứng dụng của nó

Nanosilica là một vật liệu nano có kích thước từ 1 đến 100 nm, được sử dụng rộng rãi trong y học nhờ vào khả năng mang thuốc và cải thiện sinh khả dụng. Nanosilica có thể được biến tính để tăng cường khả năng tương tác với các loại thuốc, đặc biệt là doxorubicin, giúp tăng cường hiệu quả điều trị ung thư.

1.2. Doxorubicin và vai trò của nó trong điều trị ung thư

Doxorubicin là một loại thuốc hóa trị phổ biến, được sử dụng để điều trị nhiều loại ung thư khác nhau. Tuy nhiên, do tính độc hại cao và khả năng gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng, việc cải thiện hiệu quả mang thuốc doxorubicin là rất cần thiết. Nghiên cứu cho thấy rằng việc kết hợp doxorubicin với nanosilica có thể giúp giảm thiểu tác dụng phụ và tăng cường hiệu quả điều trị.

II. Thách thức trong việc cải thiện hiệu quả mang thuốc doxorubicin

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về việc sử dụng nanosilica để cải thiện hiệu quả mang thuốc doxorubicin, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Một trong những vấn đề lớn nhất là khả năng giải phóng thuốc từ nanosilica trong cơ thể. Việc kiểm soát tốc độ giải phóng thuốc là rất quan trọng để đảm bảo rằng doxorubicin được phát huy tối đa hiệu quả mà không gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng.

2.1. Vấn đề giải phóng thuốc từ nanosilica

Giải phóng thuốc từ nanosilica phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm kích thước, hình dạng và tính chất bề mặt của nanosilica. Việc tối ưu hóa các yếu tố này là cần thiết để đảm bảo rằng doxorubicin được giải phóng đúng cách và đúng thời điểm trong cơ thể.

2.2. Tác động của môi trường sinh học đến hiệu quả mang thuốc

Môi trường sinh học trong cơ thể có thể ảnh hưởng đến khả năng mang thuốc của nanosilica. Các yếu tố như pH, nhiệt độ và nồng độ ion có thể làm thay đổi tính chất của nanosilica, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả mang thuốc doxorubicin.

III. Phương pháp cải thiện hiệu quả mang thuốc doxorubicin bằng nanosilica

Để cải thiện hiệu quả mang thuốc doxorubicin, nhiều phương pháp đã được nghiên cứu và áp dụng. Một trong những phương pháp hiệu quả nhất là biến tính bề mặt của nanosilica để tăng cường khả năng tương tác với doxorubicin. Việc sử dụng các nhóm amino trên bề mặt nanosilica đã cho thấy khả năng cải thiện đáng kể hiệu quả mang thuốc.

3.1. Biến tính bề mặt nanosilica bằng nhóm amino

Biến tính bề mặt nanosilica bằng nhóm amino giúp tăng cường khả năng tương tác với doxorubicin, từ đó cải thiện hiệu quả mang thuốc. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nanosilica được biến tính bằng nhóm amino có khả năng gắn kết tốt hơn với doxorubicin, giúp tăng cường khả năng giải phóng thuốc trong môi trường sinh học.

3.2. Sử dụng công nghệ nano trong điều trị ung thư

Công nghệ nano đã mở ra nhiều cơ hội mới trong việc điều trị ung thư. Việc sử dụng nanosilica không chỉ giúp cải thiện hiệu quả mang thuốc mà còn giúp giảm thiểu tác dụng phụ của doxorubicin. Nghiên cứu cho thấy rằng nanosilica có thể giúp tăng cường khả năng hấp thụ của doxorubicin, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả mang thuốc doxorubicin bằng nanosilica

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng nanosilica để mang thuốc doxorubicin có thể cải thiện đáng kể hiệu quả điều trị ung thư. Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy rằng bệnh nhân sử dụng doxorubicin kết hợp với nanosilica có tỷ lệ sống sót cao hơn và ít gặp tác dụng phụ hơn so với những bệnh nhân chỉ sử dụng doxorubicin đơn thuần.

4.1. Kết quả khảo sát hiệu quả mang thuốc

Kết quả khảo sát cho thấy rằng nanosilica có khả năng mang doxorubicin hiệu quả hơn so với các phương pháp truyền thống. Việc sử dụng nanosilica giúp tăng cường khả năng giải phóng thuốc và giảm thiểu tác dụng phụ, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị.

4.2. Ứng dụng thực tiễn của nanosilica trong điều trị ung thư

Nanosilica đã được ứng dụng trong nhiều nghiên cứu điều trị ung thư, cho thấy tiềm năng lớn trong việc cải thiện hiệu quả mang thuốc doxorubicin. Các nghiên cứu tiếp theo cần được thực hiện để xác định rõ hơn về khả năng và hiệu quả của nanosilica trong điều trị ung thư.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về nanosilica và doxorubicin

Nghiên cứu về nanosilica và doxorubicin đã mở ra nhiều cơ hội mới trong việc điều trị ung thư. Việc cải thiện hiệu quả mang thuốc doxorubicin bằng nanosilica không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn giảm thiểu tác dụng phụ. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều tiến bộ trong lĩnh vực y học, đặc biệt là trong điều trị ung thư.

5.1. Tương lai của công nghệ nano trong y học

Công nghệ nano đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong y học, đặc biệt là trong điều trị ung thư. Việc phát triển các vật liệu nano mới có thể giúp cải thiện hiệu quả mang thuốc và giảm thiểu tác dụng phụ, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực nanosilica

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc tối ưu hóa các điều kiện để cải thiện hiệu quả mang thuốc của nanosilica. Việc tìm hiểu sâu hơn về cơ chế hoạt động của nanosilica trong cơ thể cũng là một hướng nghiên cứu quan trọng để phát triển các phương pháp điều trị ung thư hiệu quả hơn.

14/08/2025
Thẩm định quy trình phân tích nhóm amino trong các polime sinh học dùng để biến tính bề mặt nanosilica nhằm tăng hiệu quả mang thuốc chống ung thư doxorubicin

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU Ung thư được hiểu là nhóm các bệnh liên quan đến việc tăng sinh tế bào một cách mất kiểm soát và bất thường. Các tế bào tăng sinh đó có khả năng xâm lấn phát triển trực tiếp vào những mô tế bào và nó còn có khả năng di chuyển đến những bộ phận khác trong cơ thể (di căn). Nhiều loại bệnh ung thư có thể được phòng ngừa bằng việc không hút thuốc, duy trì cân nặng khỏe mạnh, không uống quá nhiều rượu, ăn nhiều rau, trái cây và ngũ cốc nguyên hạt, tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm nhất định, không ăn quá nhiều thịt chế biến và thịt đỏ cũng như tránh phơi nắng quá nhiều. Và việc điều trị ung thư là điều trị phối hợp bởi nhiều phương pháp: phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng, dinh dưỡng, tâm lý xã hội.

Có thể nói, những năm gần đây các phương pháp điều trị tân tiến, kỹ thuật và thuốc mới trong điều trị ung thư được nghiên cứu và tiến bộ vượt bậc. Việt Nam cũng là quốc gia cập nhật rất nhanh các tiến bộ này. Nếu như trước đây, phải sau nhiều năm các thuốc mới mới được sử dụng trên bệnh nhân Việt Nam thì ngày nay khoảng cách này đã được rút ngắn lại. Đặc biệt, các kỹ thuật xạ trị hiện đại như VMAT, IMRT… phẫu thuật nội soi, Robot, xạ phẫu Gamma Knife cũng đã được triển khai tại Bệnh viện K cũng như một số trung tâm ung bướu khác trên cả nước.

Với sự phát triển của khoa học đặc biệt từ khi công bố chức năng của công nghệ nano thì ngành y học đã nhanh chóng ứng dụng nó trong việc tạo vật liệu nano dẫn truyền thuốc để điều trị bệnh ung thư. Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã nghiên cứu ra nano vàng, nano bạc và một số hoạt chất khác làm chất mang thuốc dẫn vào cơ thể người bệnh. Trong nghiên cứu này tập trung vào việc so sánh hàm lượng thuốc ung thư Doxorubicin chứa trong nano silica xốp đã biến tính bằng phương pháp UV-Vis từ đó đưa ra được nhận xét về khả năng mang thuốc của vật liệu nano silica xốp. Dựa trên cơ sở đó, với đề tài “Thẩm định quy trình phân tích nhóm amino trong các polime sinh học dùng để biến tính bề mặt nanosilica nhằm tăng hiểu quả mang thuốc chống ung thư doxorubicin” với mong muốn đưa ra được các số liệu đánh giá khả năng dẫn truyền thuốc của nano silica từ đó đưa vào ứng dụng trong công cuộc hỗ trợ điều trị ung thư cho các bệnh nhân.1 Vật liệu mang thuốc 1.1 Khái niệm Là hệ thống mang thuốc có kích cỡ nano cỡ 1-1000nm, với kích thước phù hợp nó có nhiệm vụ như một tác nhân liên kết, có vai trò vận chuyển thuốc đến các tế bào mong muốn.

Nó còn có vai trò mang thuốc đến đến với tế bào cần của bệnh nhân với liều lượng phù hợp và thời gian giải phóng thuốc như mong đợi. “Đúng nơi, đúng lúc, đúng liều” nếu tập hợp được ba yếu tố thì sẽ đạt được tính hiểu quả tốt nhất của thuốc. Chất mang thuốc có nhiều kì vọng để phát triển là một polymer-miceles, các hạt nano silica. Các hạt nano sẽ gắn và mang các dược chất hoặc tác nhân mong muốn vào liên kết hóa học hoặc gắn trực tiếp lên trên bề mặt của hạt để đạt được hiệu quả mang thuốc[1].2 Các loại hạt mang thuốc.

Để phân loại các hạt nano mang thuốc thường phải dựa vào rất nhiều yếu tố như thành phần cấu tạo của hạt, cấu trúc của hạt, và các đặc tính riêng của hạt mà từ đó mà ta có thể phân loại cụ thể và khách quan hơn. [1] + Có 3 phân lớp lớn có thể phân theo thành phần cấu trúc hạt: - Inorganic nanoparticle (Hạt nano vô cơ) - Polymeric nanoparticles (Hạt nano polymer) - Lipid nanoparticles (Hạt nano lipip) + Phân loại theo cấu trúc của hạt ta có thể phân thành 3 loại sau. - Nanocapsules (Hạt cấu trúc dạng nang): là dạng hạt nano một khoang chứa thuốc và được bao quanh bởi một thành phần là polymer hoặc là một màng đơn hoặc kép lipid có thể nằm ở nhiều trạng khác nhau như trạng thái rắn, rắn-lỏng hoặc lỏng ưu nước hoặc ưu dầu. - Nanospheres (Hạt nano cấu trúc dạng cầu): Là dạng ma trận, được thống nhất về thể phân tán.

- Nanocomplex (Hạt nano cấu trúc dạng phức tạp): thường là phức hợp đa thành phần giữa polymer hoặc lipid tích điện dương và hoạt chất tích điện âm (protein, peptit và acid nucleic) kết hợp với nhau nhờ tương tác điện tích. + Phân loại theo tính chất bề mặt của hạt nano, dựa vào vào khả năng biến đổi trên bề mặt của hạt như: tính ưa dầu và có hiệu ứng cản trở không gian và thành phần cấu tạo bề mặt nhằm hướng tới hạt nano đến đích tác dụng. Từ các đặc điểm trên có thể phân hạt nano thành 3 loại: - Pasive nanoparticles (Hạt nano thụ động): Được biết là hạt nano hướng đến gan và lách do trong quá trình vận chuyển trong tuần hoàn các hạt dễ bị opsonin hóa bởi các tế bào huyết tương, và thường nó sẽ bị bắt giữ bởi các tế bào thực bào đơn nhân 3 do có các receptor bề mặt nhận biệt các đặc hiệu protein huyết tương, các hạt này thường sẽ di chuyển hướng tới chủ yếu là vùng gan, lách. Đặc điểm thì đây là loại hạt có bề mặt không có sự cản trở về mặt không gian và có tính ưa dầu.

- Stealyh® nanoparticles (Hạt nano Stealyh®): Là hạt nano được coi là tối ưu hơn nano hạt Pasive nanoparticles bởi nó không bị opsonin hóa bắt giữ lại do có liên kết cộng hóa trị với PEG (polyethylenglycol) làm thay đổi cấu trúc bề mặt, nhờ khả năng này nên được ứng dụng vào việc trị các bệnh ở ngoài vùng gan, lách. Với đặc điểm ở bề mặt được bao phủ bởi một lớp polymer ưa nước và linh động.3 Một số vật liệu nano dẫn truyền thuốc Hình 1. 1 Một số loại vật liệu dẫn truyền thuốc 1.1 Nguồn gốc silica Lúa gạo là mặt hàng nông nghiệp chiếm vị trí chiến lượt trong thành phần kinh tế thế giới. Trong đó Châu Á là một trong những châu lục tiêu thụ 90% lúa gạo được sản xuất.

Vì thế hàng mili tấn vỏ trấu được thải ra mỗi năm từ ngành công nghiệp sản xuất lúa gạo. Tạo thành vấn đề cần phải giải quyết cho lĩnh vực quản lí chất thải rắn. Vì đây là hoạt động sản xuất lớn vì thế lượng vỏ trấu thải ra cần được giải quyết nhanh chóng, vì vỏ trấu có thể tạo thành môi trường sinh sống lí tưởng cho các kí sinh mang bệnh, bên cạnh đó vỏ trấu còn tăng nguy cơ hỏa hoạn thậm chí khi xếp chúng vào các bãi chứa rác thải chúng sẽ chiếm không gian rất lớn và gây khó khan cho việc xử lí chúng. Nếu tiêu hủy bằng lửa vỏ trấu sẽ tạo ra một lượng lớn khí thải metan độc hại và gây ra ô nghiễm không khí nghiêm trọng[2].

Và điều đó thu hút các nhà nghiên cứu về cách biến loại rác thải công nghiệp này vật liệu để giảm thải chất thải rắn cho ngành công nghiệp. Bằng cách sử dụng các dung dịch acid và quá trình đốt cháy đã có thể loại bỏ hầu hết các tạp chất có trong vỏ trấu và tạo ra 4 silica màu trắng trong và có tổng diện tích bề mặt khá lớn. Các thành phần chính trong vỏ trấu là cellulose, hemicelluloses và lignin chiếm hơn 75%, khoảng 20% là các hợp chất vô cơ K2O, CaO, MgO, Al2O3 và P2O5, phần còn lại những yếu tố loại đất, điều kiện thời tiết. Nhưng điều đặc biệt ở đây vẫn chưa có nghiên cứu nào khảo sát việc sử dụng acid loãng để chiết xuất vỏ trấu có hàm lượng hợp chất vô cơ cao [3].

Được biết SiO2 là những nguyên liệu thô cơ bản được sử dụng khá rộng rãi và phổ biến thuộc lĩnh vực vật liệu elec-tronic, gốm và polymer, bởi đường kính của nó, silica có dạng bột siêu mịn phù hợp được rất nhiều và các lĩnh vực như logic kỹ thuật và được ứng dụng làm tác nhân tixotropic, chất các điện nhiệt, chất làm đầy composite, vật liệu mang chất gắn trên thuốc, v. Việc sản xuất các vật liệu cách điện hoặc vật liệu chịu nhiệt bằng vỏ trấu đã giúp phần giải quyết những vẫn đề lớn về rác thải vỏ trấu đối với môi trường và làm tăng giá trị dư lượng 1.2 Vật liệu Nanosilica dẫn truyền thuốc. Nano silica (PNS) bao gồm các oxit kim loại vô định hình được điều chế bằng phương pháp sol-gel. Trong đó chất hoạt động bề mặt được sử dụng trong các phương pháp, quá trình này bao gồm quá trình thủy phân và ngưng tụ oxit silic trong điều kiện xúc tác[4].

Các hạt nano silica có kích thước nano, có các tính năng độc đáo như độ ổn định, lỗ xốp có thể điều chỉnh và diện tích bề mặt lớn nên thích hợp để mang các loại thuốc chống ung thư khác nhau. Chúng chứa các lỗ có đường kính từ 2 đến 50 nm. PNS có bề mặt bên ngoài và bên trong được chọn lọc với các nhóm hữu cơ và vô cơ khác nhau. Hạt nano này bao bọc các tác nhân điều trị như protein, peptit, các phân tử nhỏ không cần tác động vào vì chúng có thể tích tụ vào các lỗ xốp của PNS.

MSN được coi là chất mang thuốc hiệu quả vì chúng có khả năng lưu trữ cao, đặc tính giải phóng được kiểm soát và đến đúng mục tiêu cụ thể. Do sự hiện diện của các nhóm phân cực (như Si-OH và Ti-OH), PNS có bản chất ưa nước và cải thiện khả năng hòa tan của các loại thuốc kỵ nước giúp cải khả dụng sinh học và khả năng hấp thụ của thuốc được tăng lên. Hầu hết các MSN có thể được sử dụng cho phương pháp tăng thân nhiệt có thể gây ảnh hưởng nhiều đến sự phát trển của tế bào ung thư[4]. 2 Gốc ưa nước (trái) và kỵ nước (phải) của PNS Số lượng nguyên tử bám trên toàn bộ diện tích bề mặt PNS tăng lên cùng với sự giảm kích thước hạt.

Đối với các hạt nano silica nhỏ hơn 5nm, có hơn một nửa số nguyên tử Si trên bề mặt. Do đó, bề mặt phải có một hoặc nhiều nhóm silanol (≡ Si-OH), nếu liên kết các nhóm chức hoặc kết hợp các ion kim loại phụ thuộc nhiều vào nồng độ của nhóm silanol trên một gam silica. Tuy nhiên, số lượng silanol giảm cùng với sự giảm kích thước 5 hạt cho thấy rằng các hạt nano này có thể phản ứng hóa học, do đó thích hợp cho các ứng dụng xúc tác [4].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ