phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần ICT Quốc gia giai đoạn 2018-2020. Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần ICT Quốc gia trong thời gian tới. 14 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, nhằm thu đƣợc kết quả cao nhất với một chi phí thấp nhất. Các khái niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh xuất hiện từ sự phát triển của lịch sử và các góc nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khoa học. Adam Smith (1776) trong cuốn sách “Của cải của các dân tộc” đã nhận định: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”.
Theo nhận định này, khả năng tiêu thụ sản phẩm là yếu tố duy nhất của việc xác định hiệu quả kinh doanh. Quan điểm của Adam Smith đã bỏ qua yếu tố chi phí trong việc tính toán hiệu quả kinh doanh do đó chƣa phân định đƣợc rõ ràng giữa hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh.Samuelson (1984) trong cuốn Kinh tế học đã đƣa ra quan điểm: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người”. Với cách nhìn này, Paul A.Samuelson đã nêu đƣợc đặc tính của khái niệm hiệu quả đó là sử dụng một cách tối ƣu các nguồn lực và mục đích của hoạt động. Tuy nhiên, quan điểm này chƣa đƣa ra đƣợc cách xác định hiệu quả kinh doanh.
Tác giả Phan Quang Niệm (2008) trong cuốn “Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế hiện đại” đã nhận định : “Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề hiệu quả sản xuất. Sản xuất kinh doanh (SXKD) có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả SXKD cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi doanh nghiệp” 15 Hai khái niệm hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh cần phải phân biệt một cách rõ ràng.
Kết quả kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp đạt đƣợc trong một khoảng thời gian nhất định đƣợc lƣợng hóa bằng một số chỉ tiêu nhƣ doanh thu, sản lƣợng tiêu thụ, thị phần,…Hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, đƣợc tính bằng tỷ số giữa kết quả đạt đƣợc và hao phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó. Nhƣ vậy, chúng ta có thể hiểu: “Hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố, nguồn lực đầu vào để tạo ra đầu ra đó” - Các nguồn lực đầu vào bao gồm: tài sản, vốn, chi phí, lao động - Các kết quả đầu ra bao gồm: doanh thu, lợi nhuận, giá trị tổng sản lƣợng Hiệu quả đạt đƣợc nhắc tới trong khái niệm trên bao gồm hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tƣơng đối. - Hiệu quả tuyệt đối đƣợc tính theo công thức: Hiệu quả SXKD = Kết quả thu đƣợc – Nguồn lực đầu vào Hiêu quả tuyệt đối cho ta thấy đƣợc việc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả có hiệu quả hay không cụ thể: Hiệu quả > 0: cho thấy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, doanh thu đạt đƣợc lớn hơn chi phí bỏ ra, doanh nghiệp kinh doanh có lãi. Hiệu quả ≤ 0: cho thấy doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, thậm chí còn bị thua lỗ do doanh thu mang lại không đủ bù đắp cho các chi phí bỏ ra.
-Hiệu quả tƣơng đối đƣợc tính theo công thức: Hiệu quả SXKD = Hiệu quả tƣơng đối cho ta thấy đƣợc mối tƣơng quan giữa nguồn lực bỏ ra và kết quả đạt đƣợc, cụ thể: Hệ số > 1: cho ta thấy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, chi phí bỏ ra thấp hơn doanh thu mang lại, doanh nghiệp có lãi. 16 Hệ số ≤ 1: cho thấy doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, thậm chí còn bị thua lỗ do doanh thu mang lại nhỏ hơn hoặc bằng các chi phí bỏ ra. Phân loại hiệu quả kinh doanh Trong thực tiễn, có thể có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh dựa trên các tiêu thức đánh giá khác nhau và nhằm những mục đích khác nhau. Chúng ta có các cách phân loại sau để tạo điều kiện thuận lợi trong việc phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh: a.
Hiệu quả tuyệt đối và tƣơng đối Căn cứ vào chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, chúng ta có thể phân loại hiệu quả kinh doanh thành hiệu quả tƣơng đối và hiệu quả tuyệt đối. -Hiệu quả tƣơng đối đƣợc xác định bằng cách so sánh các chi tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phƣơng án với nhau, hay chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phƣơng án. -Hiệu quả tuyệt đối là bằng cách xác định mức lợi ích thu đƣợc với lƣợng chi phí bỏ ra ta tính toán đƣợc lƣợng hiệu quả cho từng phƣơng án kinh doanh cụ thể. Việc xác định hiệu quả tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả tƣơng đối (so sánh).
Tuy nhiên có những chỉ tiêu hiệu quả tƣơng đối đƣợc xác định không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối. Chẳng hạn, việc so sánh mức chi phí của các phƣơng án khác nhau để chọn ra phƣơng án có chi phí thấp nhất thực chất chỉ là sự so sánh mức chi phí của các phƣơng án chứ không phải là việc so sánh mức hiệu quả tuyệt đối của các phƣơng án. Hiệu quả chi phí bộ phận và hiệu quả chi phí tổng hợp Căn cứ vào phạm vi xác định hiệu quả, hiệu quả kinh doanh đƣợc phân loại thành hiệu quả chi phí bộ phận và hiệu quả của chi phí tổng hợp. -Hiệu quả chi phí bộ phận thể hiện mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc với chi phí của từng yếu tố cần thiết đã đƣợc sử dụng để thực hiện nhiêm vụ kinh doanh 17 nhƣ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ thuê ngoài,… -Hiệu quả chi phí tổng hợp thể hiện mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc và tổng hợp tất cả các loại chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì vậy, doanh nghiệp cần đánh giá tổng hợp các loại chi phí trên đồng thời phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí khi đánh giá hiệu quả kinh doanh. Điều này có ý nghĩa quan trọng giúp công tác quản lý tìm đƣợc hƣớng giảm chi phí tổng hợp và chi phí bộ phận, thông qua đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân Căn cứ vào đối tƣợng cần đánh giá, có thể phân loại hiệu quả kinh doanh thành hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân. -Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu đƣợc từ các hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp, biểu hiện chung của hiệu quả kinh doanh cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt đƣợc.
-Hiệu quả kinh tế quốc dân là sự đóng góp của nó vào việc phát triển sản phẩm, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng thu cho ngân sách, tích lũy ngoại tệ, giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Giữa hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau. Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt đƣợc trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp nhƣ một tế bào của nền kinh tế, doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ đóng góp vào hiệu quả chung của nền kinh tế.
Ngƣợc lại, tính hiệu quả của bộ máy kinh tế sẽ là tiền đề tích cực, là khung cơ sở cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt kết quả cao. Đó chính là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa lợi ích bộ phận với lợi ích tổng thế. Tính hiệu quả của nền kinh tế xuất phát từ chính hiệu quả 18 của mỗi doanh nghiệp và một nền kinh tế vận hành tốt là môi trƣờng thuận lợi để doanh nghiệp hoạt động và ngày một phát triển. Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình các doanh nghiệp phải thƣờng xuyên quan tâm đến hiệu quả kinh doanh của mình các doanh nghiệp phải thƣờng xuyên quan tâm đến hiệu quả kinh tế quốc dân, đảm bảo lợi ích riêng hòa với lợi ích chung.
Về phía các cơ quan quản lý nhà nƣớc, với vai trò định hƣớng cho sự phát triển của nền kinh tế cần có các chính sách tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể hoạt động đạt hiệu quả cao nhất trong khả năng có thể của mình. Hiệu quả trƣớc mắt và hiệu quả lâu dài Hiệu quả trƣớc mắt hay hiệu quả lâu dài chính là hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệp xem xét trong khoảng thời gian ngắn hay dài. Hiệu quả trƣớc mắt là những điều thấy ngay đƣợc khi doanh nghiệp hoàn thành dự án đề ra. Còn hiệu quả lâu dài là từ những dự án đề ra, từ những hiệu quả trƣớc nhận đƣợc, doanh nghiệp sẽ tiếp tục phát huy để có thể nhận đƣợc những thành quả to lớn trong tƣơng lai.
Phải kết hợp hài hòa lợi ích trƣớc mắt và lợi ích lâu dài, không đƣợc chỉ vì lợi ích trƣớc mắt mà làm thiệt hại đến lợi ích lâu dài của doanh nghiệp. Vai trò của hiệu quả kinh doanh Hiệu quả hoạt động kinh doanh chính là cán cân để nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện công tác điều hành kinh doanh của doanh nghiệp. Để bắt đầu hoạt động của một doanh nghiệp, các nhà quản trị đều cần phải có nguồn lực huy động từ vốn, nhân công, các điều kiện đi kèm để phù hợp với mục đích đề ra ban đầu. Đƣơng nhiên mỗi doanh nghiệp đều có định hƣớng và mục tiêu phát triển khác nhau ở từng giai đoạn.