phần mở đầu, kết luận, danh mục…., nội dung của luận án bao gồm 4 chƣơng, cụ thể: - Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài - Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM trong điều kiện hội nhập quốc tế - Chƣơng 3: Thực trạng HQHĐKD của NHTMCP ngoại thƣơng Việt nam trong điều kiện hội nhập quốc tế - Chƣơng 4: Giải pháp nhằm nâng cao HQHĐKD tại NHTMCP Ngoại thƣơng Việt nam trong điều kiện hội nhập quốc tế. 11 CHƢƠNG I TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC Liên quan đến vấn đề hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam, cũng nhƣ hội nhập kinh tế quốc tế đã có không ít tác giả tiếp cận ở các khía cạnh hoạt động và góc độ nghiên cứu khác nhau về NHTM. Dƣới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến phân tích nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam cũng nhƣ hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua.
Cụ thể: Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh qua một số nghiệp vụ, khía cạnh chủ yếu của ngân hàng thương mại Nguyễn Thị Nhƣ Thủy (2015) với luận án tiến sĩ : “Hiệu quả tín dụng c a Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng N m” [36], nghiên cứu đã nêu hiệu quả tín dụng từ góc độ ngân hàng dựa trên hai nhóm chỉ tiêu. Nhóm chỉ tiêu thứ nhất là đo lƣờng hiệu quả tín dụng qua việc xác định hiệu quả tín dụng cuối cùng là lợi nhuận từ HĐTD thể hiện qua quy mô và tốc độ tăng trƣởng lợi nhuận từ HĐTD. Nhóm chỉ tiêu thứ hai là đo lƣờng hiệu quả tín dụng thông qua nhóm chỉ tiêu trung gian gồm: nhóm chỉ tiêu đánh giá tín dụng chung đƣợc thể hiện qua quy mô tín dụng và chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng doanh số từ tín dụng, nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trực tiếp thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu, hiệu quả sử dụng vốn, hệ số rủi ro tín dụng, hệ số thu nợ, vòng quay vốn tín dụng. Từ việc đƣa ra các chỉ tiêu phân tích, tác giả nêu các nhân tố ảnh hƣởng bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài ngân hàng.
Từ đó tác giả đƣa ra các giải pháp: nâng cao hiệu quả sử dụng vốn hợp lý, xác định vòng quay vốn tín dụng phù hợp, gia tăng tài sản có và giảm bớt rủi ro tín dụng, giảm tỷ lệ nợ xấu. Vũ Anh Quân (2017) với luận án tiến sĩ “Nâng o hiệu quả hoạt ng tín ụng á ngân hàng th ng mại ổ phần trên ị bàn Hà N i”[64], luận án 12 đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về hiệu quả tín dụng của ngân hàng thƣơng mại cũng nhƣ phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng của các NHTMCP trên địa bàn Hà nội. Luận án đã chỉ ra : đối với các Ngân hàng thƣơng mại cổ phần tại khu vực Hà nội nhân tố nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu có ảnh hƣởng lớn nhất đến hiệu quả tín dụng trong giai đoạn phân tích, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tập trung vào việc tăng trƣởng tín dụng ổn định, tăng chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động vốn, nâng cao công tác định giá tài sản, giảm nợ xấu, đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020, nâng cao công tác quản lý lƣơng nhân viên. Phùng Thị Lan Hƣơng (2015), với luận án Tiến sĩ “Phân tí h tài hính với việ nâng o hiệu quả hoạt ng kinh o nh ngân hàng th ng mại iệt Nam” [51] đã cho thấy sự cần thiết phải đánh giá một cách chi tiết hoạt động kinh doanh của ngân hàng, để nhận biết, phán đoán, dự báo, đƣa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tƣ, đồng thời có sự điều chỉnh nhất định nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Đồng thời nghiên cứu này đã đƣa ra các phân tích tài chính bao gồm các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng gồm: (1) Quy mô vốn chủ sở hữu và hệ số an toàn vốn; (2) Nhóm chỉ tiêu về quy mô và chất lƣợng tài sản (đƣợc thể hiện qua chỉ tiêu tăng trƣởng tổng tài sản, tỷ lệ cho vay, chất lƣợng tín dụng thể hiện thông qua tỷ lệ nợ xấu); (3) Các chỉ tiêu khả năng sinh lời (Lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản có bình quân (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ lãi ròng cận biên (NIM)). Nghiên cứu đã phân tích hiệu quả hoạt động của 6 ngân hàng là Agribank, BIDV, VCB, Vietinbank, Techcombank trong giai đoạn 2009 – 2013 dựa trên các chỉ số tài chính. Lê Xuân Nghĩa (2011) Tại kỷ yếu Diễn đàn kinh tế mùa xuân 2013, nghiên cứu “Tái u trúc Ngân hàng th ng mại - Nâng o năng lực quản trị r i ro”[9] đã chỉ ra rằng yếu kém của các NHTM đa phần là năng lực quản trị điều hành, hệ thốngcông nghệ thông tin và quy trình QTRRTD. Theo nhƣ kết 13 quả nghiên cứu, tái cấu trúc NHTM là cần thiết, là trọng tâm của tái cấu trúc nền kinh tế: (i) Cuộc chạy đua vốn theo nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ về ban hành Danh mục mức vốn pháp định của các TCTD ảnh hƣởng đến năng lực quản trị, chất lƣợng nguồn nhân lực không đáp ứng kịp với tốc độ tăng tài sản tƣơng ứng.
Tái cấu trúc là sáp nhập tạo thành các NHTM có quy mô lớn chuẩn bị sẵn sàng vốn đối phó với rủi ro nhƣ: nợ xấu cao, tỷ suất sinh lời của vốn thấp; (ii) Hệ thống QTRR không tuân theo chuẩn mực quốc tế, do đó không đo lƣờng đƣợc chính xác rủi ro để đƣa ra biện pháp xử lý rủi ro tốt hơn; (iii) năng lực quản trị điều hành tại các NHTM thiếu và yếu: không tuân theo các chuẩn mực quốc tế từ bộ máy QTRR, quy trình chính sách, các công cụ vận hành, bộ máy kiểm toán nội bộ (KTNB). Đây là những nhận định sâu sắc và sát với thực tiễn năng lực QTRRTD tại các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, tái cấu trúc NHTM nghiên cứu mới chỉ kết luận, tái cấu trúc là tập trung tăng quy mô vốn cho các ngân hàng thông qua sáp nhập, các nhân tố khác là kết quả của quá trình sau sáp nhập. Hội thảo khoa học giới thiệu kết quả nghiên cứu đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ “Nhận diện các yếu tố tá ng ến năng lự ổi mới sáng tạo c a á ngân hàng th ng mại tại Việt N m”[63] đã cho thấy đổi mới sáng tạo đƣợc nhận diện là yếu tố mang tính sống còn, bất cứ tổ chức nào cũng phải thay đổi mình để thích ứng với những thay đổi của môi trƣờng, đặc biệt là đáp ứng với yêu cầu của khách hàng, nhất là đối với hoạt động ngân hàng.
Theo đó, nhóm nghiên cứu đã xây dựng một mô hình năng lực đổi mới sáng tạo của ngân hàng gắn với 6 nhóm yếu tố, đó là: sản phẩm, quy trình, công nghệ, tổ chức, marketing, liên kết. 6 nhân tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của ngân hàng đó là: Năng lực hấp thu kiến thức; hệ thống liên kết; định hƣớng học hỏi; văn hoá của tổ chức; đặc trƣng của ngành và nguồn lực liên quan đến hoạt động nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới. Kết quả nghiên cứu thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo của NHTM Việt Nam cho thấy, đối với năng lực đổi mới sản phẩm, ngân hàng đang tập trung vào nâng cao chất lƣợng, bổ sung các tính năng 14 mới và phát triển sản phẩm mới, yếu tố giảm chi phí vận hành còn hạn chế hơn. Đáng chú ý, các ngân hàng nhỏ, trung bình đang thực hiện đổi mới sáng tạo tốt hơn còn các ngân hàng quy mô lớn cho thấy sự thay đổi ít linh hoạt hơn.
Về năng lực đổi mới quy trình, các ngân hàng quy mô nhỏ rất quan tâm đến tiết kiệm chi phí, thông qua việc giảm các hoạt động không tăng giá trị, rút ngắn thời gian cung cấp dịch vụ, tổ chức và vận hành quy trình hiệu quả. Về năng lực đổi mới marketing, các ngân hàng đang tập trung vào việc đổi mới kênh phân phối, quảng bá sản phẩm. Đối với năng lực đổi mới tổ chức, các nhà băng tập trung vào việc đổi mới hệ thống hoạt động và quản trị chất lƣợng, đổi mới hoạt động quản trị nguồn nhân lực. Về năng lực đổi mới liên kết, các ngân hàng cũng đã tăng cƣờng kết nối với khách hàng tốt hơn, hiểu rõ nhu cầu của khách hàng hơn thông qua các sản phẩm chuyên biệt.
Các ngân hàng cũng chủ động hợp tác với việc nghiên cứu và trƣờng đại học, đây là nền tảng tri thức của sự đổi mới. Về năng lực đổi mới công nghệ, các ngân hàng cũng đã tích cực đổi mới về công nghệ, ứng dụng công nghệ mới trong ngành. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh của ngân hàng thương mại Phạm Thị Bích Lƣơng (2007) với luận án Tiến sĩ “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt ng các NHTM Nhà n ớ iệt Nam hiện nay” [47], đã hệ thống vấn đề lý thuyết cơ bản về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Trên cơ sở đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMNN Việt Nam giai đoạn 2000 – 2005 theo các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả.
Đƣa ra đề xuất giải pháp có tính đột phá nhƣ: xây dựng tập đoàn tài chính trên việc hợp nhất các NHTM NN, cổ phần hóa triệt để các NHTM NN; giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các NHTM NN. nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM NN ở Việt Nam cho giai đoạn 2005-2010.