Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới và phát triển kinh tế của đất nước, các ngành và lĩnh vực kinh tế đều có những đóng góp nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của con người, đặc biệt là nhu cầu bảo đảm cuộc sống ổn định và chuẩn bị tài chính cho tương lai. Các hình thức tích lũy truyền thống như giữ tiền mặt, tích trữ vàng, ngoại tệ, gửi tiết kiệm ngân hàng, mua cổ phần hoặc đầu tư trực tiếp đều có thể đem lại lợi nhuận nhưng luôn tiềm ẩn rủi ro. Tổn thất do rủi ro gây ra không chỉ tác động tiêu cực đến bản thân người gặp nạn mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình và người thân. Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) ra đời đóng vai trò là công cụ bảo vệ tài chính khi rủi ro xảy ra, đồng thời là phương thức tiết kiệm có kỷ luật, định kỳ cho từng gia đình nhằm tạo dựng quỹ giáo dục, lập nghiệp, kết hôn cho con cái hoặc nâng cao mức sống khi về hưu.
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, hoạt động khai thác giữ vai trò quyết định đến doanh số, quy mô thị phần và sự phát triển bền vững. Để đạt được hiệu quả kinh doanh, công tác khai thác đòi hỏi phải liên tục được cải tiến, hoàn thiện nhằm thích ứng với yêu cầu thực tiễn. Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Hà Tây sau khi được thành lập và đi vào hoạt động độc lập đã triển khai nhiều chính sách đẩy mạnh khai thác, song do thời gian vận hành và kinh nghiệm quản lý còn hạn chế nên quá trình này vẫn bộc lộ những khiếm khuyết. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tại Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Hà Tây”.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ, đặc thù sản phẩm và quy trình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ.
- Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh và công tác tổ chức khai thác tại Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Hà Tây trong giai đoạn 1997 - 2000.
- Đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong hoạt động khai thác, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả khai thác cho Công ty.
Đối tượng nghiên cứu của công trình là hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và quy trình tổ chức khai thác sản phẩm bảo hiểm nhân thọ. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian được giới hạn tại Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Hà Tây và thị trường tỉnh Hà Tây; phạm vi thời gian tập trung vào số liệu thực tế giai đoạn 1997 - 2000 cùng phương hướng kế hoạch phát triển kinh tế năm 2001.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài dựa trên các nguyên lý kinh tế học bảo hiểm, lý thuyết quản trị kinh doanh và marketing dịch vụ. Văn bản làm rõ bản chất của bảo hiểm nhân thọ dưới hai giác độ:
- Về mặt pháp lý: Bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng cam kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, theo đó doanh nghiệp cam kết chi trả số tiền bảo hiểm hoặc trợ cấp định kỳ cho người thụ hưởng khi người được bảo hiểm tử vong hoặc còn sống đến thời điểm thỏa thuận, đổi lại bên mua bảo hiểm có trách nhiệm đóng phí đầy đủ và đúng hạn.
- Về mặt kỹ thuật: Bảo hiểm nhân thọ là nghiệp vụ thực hiện các cam kết phụ thuộc vào tuổi thọ của con người, xử lý các biến cố liên quan đến tử vong, sống sót, tai nạn, bệnh tật, thương tật và chi phí y tế. Bảo hiểm nhân thọ áp dụng nguyên tắc khoán thay vì nguyên tắc bồi thường do sinh mạng con người là vô giá, đồng thời không áp dụng nguyên tắc thế quyền.
Nghiên cứu vận dụng quan điểm marketing của Philip Kotler, xác định thị trường bảo hiểm bao gồm toàn bộ khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng, giúp doanh nghiệp không bị giới hạn hoạt động theo địa điểm cố định mà có thể mở rộng ở bất kỳ nơi nào có khách hàng. Sản phẩm bảo hiểm được phân tích dưới các đặc tính: tính vô hình (sản phẩm không định hình), hiệu quả xê dịch theo thời gian, chu trình sản xuất kinh doanh đảo ngược (thu phí trước, thực hiện nghĩa vụ chi trả sau) và tính dễ bắt chước về mặt cấu trúc điều khoản. Tâm lý tham gia bảo hiểm mang tính phức tạp, đan xen giữa nhu cầu đề phòng rủi ro hợp lý và yếu tố tâm lý; mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm chịu sự chi phối của trạng thái "nghi ngờ kép".
Cơ sở pháp lý và văn bản điều hành được trích dẫn trong văn bản bao gồm:
- Quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Bảo Việt (bắt đầu hoạt động từ 15/01/1965).
- Quyết định số 754/TTG ngày 08/10/1996 của Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Bảo Việt là doanh nghiệp đặc biệt.
- Nghị định số 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm.
- Quyết định số 281/TC/TCNH ngày 20/03/1996 của Bộ Tài chính cho phép Bảo Việt triển khai hai loại hình bảo hiểm nhân thọ đầu tiên (bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 năm, 10 năm và bảo hiểm nhân thọ trẻ em).
- Quyết định số 568/QĐ/TCCP ngày 22/06/1996 của Bộ Tài chính thành lập Công ty Bảo hiểm Nhân thọ trực thuộc Bảo Việt.
- Quyết định số 46/2000/QĐ-BCP ngày 27/03/2000 của Bộ Tài chính thành lập Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Hà Tây.
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII về định hướng huy động vốn nội lực và ngoại lực.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp khảo sát lý thuyết kết hợp khảo sát thực tiễn tại doanh nghiệp; sau đó tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp và đánh giá dữ liệu. Đề tài cũng hệ thống hóa các phương pháp thu thập thông tin thị trường sơ cấp (quan sát, thực nghiệm, thăm dò dư luận qua điện thoại, bưu điện, phỏng vấn trực tiếp) và thứ cấp. Nguồn dữ liệu bao gồm báo cáo của tập đoàn tái bảo hiểm Swiss Re (tháng 3/1995), số liệu của Ngân hàng và Học viện BHNT Nhật Bản (1994), số liệu phát triển mạng lưới của Manulife, AIG, báo cáo kế hoạch kinh tế của UBND tỉnh Hà Tây và số liệu nội bộ của Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Hà Tây.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ
Chương I tập trung làm rõ lịch sử hình thành, bản chất, vai trò kinh tế - xã hội, các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ cơ bản và quy trình khai thác sản phẩm.
Về lịch sử phát triển, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên được ghi nhận vào năm 1583 tại Luân Đôn ký cho William Gibbons với mức phí 32 bảng, khi ông qua đời trong năm, người thừa kế nhận 400 bảng. Năm 1759, công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời tại Philadelphia (Mỹ), tiếp theo là Anh (1765), Pháp (1787), Đức (1828), Nhật Bản (1881), Hàn Quốc (1889), Singapore (1909). Mạng lưới đại lý bảo hiểm nhân thọ bắt đầu xuất hiện từ năm 1860.
| Tên nước |
Phí BHNT (triệu USD) |
Cơ cấu phí BHNT (%) |
Phí BHNT/Đầu người (USD/1.000 người) |
Tỷ lệ phí BHNT/GDP (%) |
| Hàn Quốc |
28.717,43 |
79,66 |
651.201 |
8,63 |
| Nhật Bản |
236.457,62 |
73,86 |
1.909.870 |
5,61 |
| Đài Loan |
6.798,60 |
68,77 |
325.311 |
3,14 |
| Singapore |
1.039,92 |
62,42 |
358.620 |
1,89 |
| Philippines |
735,74 |
59,43 |
11.294 |
1,38 |
| Thái Lan |
1.140,92 |
43,64 |
19.470 |
0.92 |
| Malaysia |
923,90 |
46,45 |
48.125 |
1,43 |
| Mỹ |
216.510,74 |
41,44 |
838.223 |
3,41 |
| Đức |
42.689,10 |
39,38 |
524.138 |
2,25 |
| Pháp |
47.673,35 |
56,55 |
826.320 |
3,80 |
| Anh |
66.093,85 |
64,57 |
1.141.405 |
7,00 |
| Indonesia |
372,98 |
30,25 |
1.974 |
0,26 |
Nguồn: Swiss Re 3/1995 (Bảng 1 trong văn bản)
Tại Việt Nam, trước năm 1954 các công ty Pháp đã triển khai bảo hiểm cho người làm việc cho Pháp tại miền Bắc. Giai đoạn 1970 - 1971, Công ty Hưng Việt triển khai nghiệp vụ An sinh giáo dục và bảo hiểm trọn đời tại miền Nam nhưng chỉ hoạt động 1 - 2 năm. Năm 1987, Bảo Việt thực hiện đề tài cấp Bộ "Lý thuyết về BHNT vận dụng vào thực tế tại Việt Nam", đến tháng 1/1990 triển khai thí điểm loại hình "Bảo hiểm sinh mạng cá nhân thời hạn một năm". Sau khi nghiên cứu lại vào cuối năm 1993, ngày 20/03/1996 Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 281/TC/TCNH cho phép Bảo Việt triển khai 2 sản phẩm: BHNT thời hạn 5, 10 năm và BHNT trẻ em. Ngày 22/06/1996, Quyết định số 568/QĐ/TCCP cho phép thành lập Công ty BHNT trực thuộc Bảo Việt.
Văn bản thiết lập bảng so sánh chi tiết giữa bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ:
| Tiêu chí |
Bảo hiểm nhân thọ |
Bảo hiểm phi nhân thọ |
| 1. Phạm vi bảo hiểm |
Con người |
Tài sản, con người, trách nhiệm dân sự |
| 2. Thời hạn bảo hiểm |
Dài hạn (5 - 10 năm hoặc suốt đời) |
Thường là một năm |
| 3. Nhân tố ảnh hưởng |
Thời gian tham gia, số tiền bảo hiểm, tỷ lệ lãi kỹ thuật, xác suất tử vong |
Xác suất rủi ro, số tiền bảo hiểm, chế độ bảo hiểm |
| 4. Đóng phí |
Có thể đóng theo tháng, quý, 6 tháng hay một năm |
Thường đóng phí một lần sau khi ký hợp đồng |
| 5. Quyền lợi bảo hiểm |
Chi trả trong các trường hợp: Chết, Thương tật toàn bộ vĩnh viễn, Hết hạn hợp đồng |
Chỉ được bồi thường tổn thất trong giới hạn hợp đồng khi có tổn thất xảy ra |
| 6. Tính chất bảo hiểm |
Vừa mang tính chất rủi ro, vừa mang tính tiết kiệm. Tất cả người tham gia đều nhận tiền |
Chỉ mang tính rủi ro và chỉ một số ít người được nhận số tiền bảo hiểm khi gặp rủi ro |
Nguồn: Bảng 2 trong văn bản
Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ được phân loại thành 3 nhóm cơ bản:
- Bảo hiểm trong trường hợp tử vong (Tử kỳ và Trọn đời): Gồm tử kỳ cố định, tử kỳ có thể tái tục (giới hạn tối đa 65 tuổi), tử kỳ có thể chuyển đổi, tử kỳ giảm dần, tử kỳ tăng dần, bảo hiểm thu nhập gia đình, bảo hiểm thu nhập gia đình tăng lên, bảo hiểm tử kỳ có điều kiện và bảo hiểm trọn đời (chi trả khi tử vong hoặc đạt 99 tuổi).
- Bảo hiểm trong trường hợp sống (Sinh kỳ): Niên kim nhân thọ trọn đời, niên kim tạm thời, bảo hiểm tiền trợ cấp hưu trí.
- Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp: Kết hợp bảo hiểm và tiết kiệm, chi trả khi người được bảo hiểm sống đến ngày đáo hạn hoặc tử vong trước hạn.
Quy trình khai thác bảo hiểm nhân thọ chuẩn bao gồm 6 khâu nghiệp vụ:
- Nghiên cứu thị trường và phân khúc khách hàng.
- Xác định khách hàng tiềm năng theo 4 tiêu chí (có nhu cầu, có khả năng tài chính trả phí, đủ tiêu chuẩn nhận bảo hiểm về độ tuổi/sức khỏe, có thể tiếp xúc).
- Tiếp xúc khách hàng và tư vấn, giới thiệu sản phẩm.
- Đánh giá rủi ro (thẩm định rủi ro sức khỏe và tài chính để phòng ngừa trục lợi).
- Ra quyết định chấp nhận bảo hiểm (chấp nhận chuẩn trong vòng 30 ngày nộp phí đầu tiên, chấp nhận có điều kiện/tăng phí, hoặc từ chối do bệnh hiểm nghèo/vượt quá giới hạn tuổi/số tiền bảo hiểm vi phạm quy luật số lớn), sau đó in ấn và bàn giao hợp đồng gồm bìa, phụ lục và điều khoản.
- Phục vụ khách hàng sau bán (thu phí định kỳ, nắm bắt nhu cầu phát sinh và hỗ trợ thủ tục giải quyết quyền lợi khi xảy ra sự kiện bảo hiểm).
Chương II: Thực trạng triển khai hoạt động kinh doanh BHNT tại Công ty BHNT Hà Tây
Chương II phản ánh tình hình hoạt động của Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Hà Tây trong bối cảnh thị trường giai đoạn 1997 - 2000.
Bảo Việt là doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước thành lập ngày 15/01/1965 theo Quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964, xếp hạng doanh nghiệp đặc biệt theo Quyết định số 754/TTG ngày 08/10/1996, sở hữu mạng lưới tại 61 tỉnh thành và hơn 200 văn phòng đại diện. Đến năm 2000, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam có 5 doanh nghiệp tham gia: Bảo Việt, Prudential, Chinfon-Manulife, Bảo Minh-CMG và AIA. Ngày 10/07/2000, 5 doanh nghiệp này đã tổ chức họp bàn về nguyên tắc hợp tác, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh. Từ tháng 5/2000, Bảo Việt thực hiện tách 27 công ty BHNT thành viên hoạt động độc lập. Công ty BHNT Hà Tây được thành lập theo Quyết định số 46/2000/QĐ-BCP ngày 27/03/2000 của Bộ Tài chính, chính thức đi vào hoạt động độc lập có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng từ ngày 15/06/2000.
Về điều kiện hoạt động của Công ty BHNT Hà Tây:
- Thuận lợi: Nhận được sự chỉ đạo trực tiếp từ Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Tây; bộ máy tổ chức chuyên môn hóa; giai đoạn từ đầu năm 1997 đến giữa năm 1998 Chính phủ áp dụng chính sách không thu thuế doanh thu đối với hoạt động kinh doanh BHNT giúp hạ phí sản phẩm; môi trường pháp lý hình thành từ Nghị định 100/CP cuối năm 1993; chính sách hoa hồng đại lý nhất quán; sự gia nhập của các công ty mới hỗ trợ nâng cao nhận thức của cộng đồng.
- Khó khăn: Hiểu biết của người dân về BHNT còn hạn chế, chưa có thói quen tích lũy dài hạn; thu nhập bình quân khu vực nông thôn thấp và phân hóa giàu nghèo lớn; các điều kiện hỗ trợ như thị trường chứng khoán, công nghệ thông tin, nhân lực chuyên môn còn thiếu; tâm lý người dân lo ngại lạm phát và rủi ro mất giá tiền tệ sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Đông Nam Á năm 1997 và biến động tỷ giá USD/VND; công ty chưa xây dựng chiến lược dài hạn và chưa phân loại nhóm khách hàng mục tiêu; đánh giá rủi ro ban đầu còn cảm tính, dựa vào lời khai của khách hàng mà thiếu kiểm tra y khoa do chi phí tốn kém; sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Cơ cấu mạng lưới đại lý khai thác tại Công ty BHNT Hà Tây được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng:
- Ban Giám đốc
- Phòng Quản lý đại lý
- Phòng Đại lý BHNT huyện
- Các Tổ đại lý
Phương thức khai thác tại Công ty được triển khai qua hai nhánh:
- Khai thác trực tiếp (chủ yếu):
- Khai thác tập thể: Nhóm đại lý đến các cơ quan, công sở, hội thảo để một đại lý thuyết trình chung và các đại lý khác tiếp cận tư vấn. Ưu điểm là tạo hiệu ứng lan tỏa, tiếp cận đồng thời nhiều khách hàng, tiết kiệm chi phí đi lại; nhược điểm là dễ gặp phản ứng dây chuyền tiêu cực nếu xử lý tình huống không khéo, tỷ lệ hủy hợp đồng cao hơn và dễ phát sinh mâu thuẫn nội bộ khi phân chia kết quả.
- Khai thác cá nhân: Từng đại lý trực tiếp tiếp cận khách hàng. Ưu điểm là đảm bảo công bằng, thời gian linh hoạt; nhược điểm là đòi hỏi kỹ năng giao tiếp và trình độ nghiệp vụ cá nhân cao.
- Khai thác gián tiếp: Sử dụng đại lý bán chuyên nghiệp và cộng tác viên như Trung tâm chuyển tiền của Bưu điện, Công ty Du lịch Cựu chiến binh.
Công tác yểm trợ khai thác được thực hiện qua quảng cáo trên báo chí, truyền thanh, pa-nô, áp phích nhưng nội dung chưa sâu, chưa tạo ấn tượng mạnh. Công tác quản lý đại lý được theo dõi qua các chỉ tiêu: số hợp đồng mới, số hợp đồng hủy bỏ, nợ phí, tổ chức họp định kỳ hàng tháng với đại lý xuất sắc, yêu cầu nộp báo cáo tháng và theo dõi qua sổ chấm công tại từng phòng khai thác. Tuy nhiên, Công ty vẫn chưa ban hành văn bản quy định đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho từng cấp quản lý và đại lý.
Về bối cảnh thị trường địa phương, theo báo cáo kế hoạch của UBND tỉnh Hà Tây, chỉ tiêu kinh tế năm 2001 dự kiến: GDP tăng 8% so với năm 2000, sản lượng lương thực đạt 1 triệu tấn, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 12%, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 387 tỷ đồng, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 50 triệu USD (khu vực nhà nước đạt 28 triệu USD), chỉ số giá sinh hoạt cơ bản ổn định và xu hướng giảm lãi suất tiền gửi ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bảo hiểm nhân thọ.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tại Công ty BHNT Hà Tây
Theo cấu trúc đề tài được tác giả công bố tại phần mở đầu, Chương III tập trung vào các giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện công tác nghiên cứu và định hướng thị trường mục tiêu dựa trên phân đoạn nhân khẩu học và thu nhập dân cư.
- Chuẩn hóa quy trình tuyển dụng, đào tạo kỹ năng tư vấn và nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ đại lý khai thác.
- Cải tiến quy trình đánh giá rủi ro ban đầu, kết hợp giữa nghiệp vụ khai thác với kiểm tra y tế khoa học để giảm thiểu rủi ro trục lợi.
- Tăng cường các biện pháp yểm trợ khai thác, đổi mới nội dung tuyên truyền, quảng cáo phù hợp với đặc thù tâm lý địa phương.
- Hoàn thiện cơ chế quản lý mạng lưới đại lý: Ban hành quy chế phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp (Phòng, Tổ, Trưởng nhóm), xây dựng chính sách thi đua, khen thưởng và duy trì dịch vụ chăm sóc khách hàng sau khi ký kết hợp đồng.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại những kết quả và đóng góp thực tiễn:
- Tổng kết số liệu thị trường: Cung cấp dữ liệu so sánh có hệ thống về tỷ lệ chi trả y tế của bảo hiểm tại Pháp năm 1995 (chi trả 31% trong tổng 862 tỷ Franc), quy mô phí bảo hiểm của các nước châu Á năm 1993 (Đông Á đạt 45,1 tỷ USD phí BHNT, chiếm 73% tổng doanh số bảo hiểm), cùng các số liệu phát triển đại lý của Manulife và AIG.
- Phân tích mô hình tổ chức thực tế: Phác họa sơ đồ tổ chức mạng lưới đại lý 4 cấp tại một công ty bảo hiểm nhân thọ cấp tỉnh trong giai đoạn bắt đầu phân tách độc lập (năm 2000), làm rõ cơ chế phối hợp giữa Phòng quản lý đại lý và các Phòng BHNT cấp huyện.
- Đánh giá ưu nhược điểm của các phương thức khai thác: So sánh chi tiết hai hình thức khai thác trực tiếp (tập thể và cá nhân), cảnh báo nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ hủy hợp đồng cao ở phương thức khai thác tập thể khi khách hàng chưa được giải thích cặn kẽ quyền lợi và nghĩa vụ.
- Chỉ ra các điểm nghẽn quản trị: Nhận diện rõ các hạn chế nội tại của Công ty BHNT Hà Tây như thiếu văn bản định biên nhiệm vụ chức năng cho mạng lưới đại lý, quy trình thẩm định rủi ro còn mang tính cảm tính chủ quan, và thiếu định hướng thị trường mục tiêu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản nêu rõ các hạn chế trong quá trình nghiên cứu:
- Nguồn số liệu thống kê y tế và dữ liệu nhân khẩu học chi tiết phục vụ cho việc phân loại khách hàng tiềm năng (như độ tuổi, bệnh lý thường gặp, mức độ tử vong) chưa được các cơ quan chức năng (Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê, Tổng công ty Bảo Việt) hoàn thiện đồng bộ tại thời điểm nghiên cứu.
- Phạm vi đánh giá hoạt động khai thác phụ thuộc vào nguồn dữ liệu nội bộ trong giai đoạn đầu tách ra hoạt động độc lập (năm 2000).
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ văn bản:
- Mở rộng nghiên cứu xây dựng bảng tỷ lệ tử vong và bảng phí chuẩn dựa trên dữ liệu thống kê dân số và y tế thực tế tại Việt Nam.
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin và trang thiết bị máy tính để hiện đại hóa công tác thẩm định rủi ro, quản lý dữ liệu hợp đồng và kiểm soát nợ phí định kỳ.
Giá trị tham khảo
Chuyên đề tốt nghiệp có giá trị tham khảo chuyên môn:
- Đối với sinh viên và học viên ngành Bảo hiểm, Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp tư liệu chi tiết về lịch sử hình thành bảo hiểm nhân thọ thế giới và Việt Nam; bảng so sánh chuẩn hóa giữa bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ; hệ thống hóa các nghiệp vụ bảo hiểm tử kỳ, sinh kỳ, hỗn hợp.
- Đối với cán bộ quản lý đại lý và doanh nghiệp bảo hiểm: Cung cấp bài học thực tiễn về cấu trúc mạng lưới đại lý cấp tỉnh, quy trình 6 bước trong khai thác nghiệp vụ, phương pháp kết hợp khai thác trực tiếp - gián tiếp, và các kỹ năng thẩm định rủi ro ban đầu nhằm hạn chế tổn thất nghiệp vụ.
Câu hỏi thường gặp
1. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế giới được ghi nhận khi nào và có mức chi trả bao nhiêu?
Hợp đồng BHNT đầu tiên được ghi vào lịch sử năm 1583 tại Luân Đôn ký với người được bảo hiểm là ông William Gibbons. Ông đóng 32 bảng phí bảo hiểm và khi ông chết trong năm đó, người thừa kế của ông được nhận số tiền 400 bảng.
2. Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Hà Tây được thành lập dựa trên quyết định pháp lý nào và bắt đầu hoạt động độc lập từ thời gian nào?
Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Hà Tây được thành lập theo Quyết định số 46/2000/QĐ-BCP ngày 27/03/2000 của Bộ Tài chính và chính thức đi vào hoạt động với tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng từ ngày 15/06/2000 (tách ra từ Công ty Bảo Việt Hà Tây).
3. Khách hàng kê khai nhầm tuổi trên giấy yêu cầu bảo hiểm được doanh nghiệp xử lý như thế nào?
- Nếu tuổi thật nhiều hơn tuổi đã khai: Trường hợp tại thời điểm tham gia vẫn trong độ tuổi bảo hiểm thì công ty tính lại số tiền bảo hiểm giảm đi tương ứng với mức phí đã nộp; nếu đã ngoài độ tuổi nhận bảo hiểm thì hợp đồng bị hủy bỏ và công ty hoàn trả một tỷ lệ phí nhất định đã nộp.
- Nếu tuổi thật ít hơn tuổi đã khai: Công ty hoàn lại số phí nộp thừa, giữ nguyên mức số tiền bảo hiểm và các kỳ sau tính phí theo tuổi đúng.
4. Hai hình thức khai thác trực tiếp (tập thể và cá nhân) có những ưu, nhược điểm gì?
- Khai thác tập thể: Tạo hiệu ứng dây chuyền lan tỏa, tiếp cận nhiều người một lúc, giảm chi phí đi lại; nhưng nếu xử lý thắc mắc không tốt dễ gây phản ứng dây chuyền bất lợi, tỷ lệ hủy hợp đồng cao hơn và dễ phát sinh bất hòa nội bộ khi phân chia kết quả.
- Khai thác cá nhân: Đảm bảo công bằng giữa các đại lý, linh động thời gian tiếp xúc; nhưng đòi hỏi kỹ năng giao tiếp và trình độ kỹ thuật khai thác chuyên sâu của từng đại lý.
5. Điều kiện xác định tình trạng "Thương tật toàn bộ vĩnh viễn" theo hợp đồng bảo hiểm nhân thọ gồm những trường hợp nào?
Người được bảo hiểm bị mất hoàn toàn và không thể phục hồi chức năng của một trong các bộ phận: hai tay; hai chân; hai mắt; một tay và một chân; một tay và một mắt; hoặc một chân và một mắt. Các trường hợp do hành động cố ý, ảnh hưởng của rượu bia, ma túy, hành vi phạm tội hoặc chiến tranh/bạo động đều bị loại trừ.
Kết luận
Chuyên đề tốt nghiệp đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận về bảo hiểm nhân thọ và quy trình 6 bước trong công tác khai thác sản phẩm bảo hiểm. Trên cơ sở khảo sát thực trạng tổ chức mạng lưới đại lý và hoạt động kinh doanh tại Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Hà Tây giai đoạn 1997 - 2000, tác giả đã chỉ rõ những ưu điểm cùng các hạn chế về công tác quản trị, thẩm định rủi ro và phân khúc thị trường. Công trình cung cấp các giải pháp và cứ liệu thực tiễn có giá trị tham khảo cho công tác quản trị mạng lưới đại lý và phát triển nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ tại thị trường địa phương.