phần mở đầu, phần kết luận , luận văn có bố cục 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả đầu tư tài chính của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện. 3 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1. Khái quát về hoạt động Bảo hiểm 1. Khái niệm bảo hiểm Trên thế giới hoạt động bảo hiểm có từ hàng trăm năm nay và có liên quan đến hàng tỷ người.
Có rất nhiều khái niệm liên quan đến bảo hiểm, nhưng nhìn chung có thể hiểu Bảo hiểm là một hoạt động mang tính bảo đảm để bù đắp các rủi ro có thể xảy ra. Một số khái niệm trên thế giới và tại Việt Nam về Bảo hiểm: Theo Dennis Kessler: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít. Theo Monique Gaullier: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.
Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm. Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): Kinh doanh Bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Từ các khái niệm trên có thể hiểu bản chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu, Bảo hiểm dựa trên qui luật số đông. 4 Nhƣ vậy, Công ty Bảo hiểm là một pháp nhân được thành lập theo những điều kiện và trình tự theo luật định.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm mục đích tạo ra thu nhập và lợi nhuận. Các nguyên tắc cơ bản của Bảo hiểm Xuất phát từ việc bảo hiểm cho rủi ro của những đối tượng tham gia bảo hiểm, song vẫn là hoạt động sinh lời nên đòi hỏi trong kinh doanh bảo hiểm phải tuân theo những nguyên tắc nhất định: Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn: Chỉ bảo hiểm một rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối. Cả người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các vấn đề.
Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm. Nguyên tắc này chỉ ra rằng người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường: Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém.
Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi. Nguyên tắc thế quyền: Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba trách nhiệm bồi thường cho mình. Các loại hình Bảo hiểm Hoạt động bảo hiểm có 2 loại hình bảo hiểm chủ yếu là bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ. Bảo hiểm nhân thọ: là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết.
Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ truyền thống bao 5 gồm: Bảo hiểm trọn đời; Bảo hiểm sinh kỳ; Bảo hiểm tử kỳ; Bảo hiểm hỗn hợp; Bảo hiểm trả tiền định kỳ. Bên cạnh đó có các sản phẩm bảo hiểm liên kết với đầu tư vừa mang tính chất bảo hiểm vừa mang tính chất đầu tư. Đặc trưng của sản phẩm này là người tham gia bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đầu tư số phí bảo hiểm của họ vào các quỹ đầu tư khác nhau thông qua công ty quản lý quỹ đầu tư theo tỷ lệ do chính người tham gia bảo hiểm lựa chọn. Nhờ kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu về hoạt động đầu tư, công ty quản lý quỹ có thể tư vấn cho người tham gia bảo hiểm các loại hình đầu tư phù hợp với mức độ rủi ro chấp nhận của họ nhằm đạt được hiệu quả đầu tư tối ưu.
Bảo hiểm phi nhân thọ: là hoạt động bảo hiểm do công ty bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người được bảo hiểm đã nộp đầy đủ phí bảo hiểm. Khi người được bảo hiểm gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, công ty bảo hiểm sẽ lấy quỹ dự phòng để trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại trong phạm vi bảo hiểm cho người được bảo hiểm. Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người được bảo hiểm đã đăng ký với công ty bảo hiểm (bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và các rủi ro không lường trước được) bao gồm: bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại, bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm chung, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính. Tổng quan về hiệu quả hoạt động đầu tƣ tài chính của DNBH.
Đầu tư tài chính và hiệu quả đầu tư tài chính: 1. Khái niệm đầu tư tài chính và hiệu quả đầu tư tài chính: Reilly và Brown (2002) khái quát một định nghĩa tổng quát về đầu tư, cụ thể: Đầu tư là sự cam kết bỏ vốn trong hiện tại để nhận được những khoản thu nhập lớn hơn trong tương lai. Khoản thu nhập này phải bao gồm giá trị thuần theo thời gian của vốn, tỷ lệ lạm phát và phần bù rủi ro của dòng thu nhập trong tương lai. Định nghĩa này nhấn mạnh bản chất của hoạt động đầu tư.
6 Như vậy, Đầu tƣ tài chính là một hình thức đầu tư chủ yếu thông qua hình thức mua chứng khoán (chứng khoán vốn - cổ phiếu hoặc chứng khoán nợ - trái phiếu) hoặc các công cụ tài chính khác. Nhà đầu tư tài chính thông thường nhắm vào mục đích mua và bán chứ ít khi làm tăng giá trị thực của công ty mà họ đầu tư vào. Hoạt động sử dụng vốn nhàn rỗi với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, gia tăng giá trị vốn đầu tư ban đầu với chiến lược lâu dài, chủ yếu mua chứng khoán, trái phiếu hoặc các công cụ tài chính. Khái niệm về hiệu quả đầu tư tài chính:Hiệu quả đầu tư tài chính là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh doanh đạt được của hoạt động đầu tư tài chính với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kì nhất định.
Vai trò, đặc điểm và các hình thức đầu tư tài chính: Vai trò nổi bật nhất của hoạt động đầu tư tài chính là hoạt động đầu tư cung cấp một nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. Với sự hoạt động của hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển một cách dễ dàng, khi cần có thể rút ra nhanh chóng thông qua việc chuyển nhượng, mua bán các công cụ tài chính trên thị trường tài chính, điều này đã khuyến khích người có tiền bỏ ra để đầu tư. Các hình thức đầu tư tài chính - Góp vốn (mua cổ phần) thành lập doanh nghiệp lần đầu - Mua/bán chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá) - Mua lại cổ phần, sáp nhập doanh nghiệp. Đặc điểm của hoạt động đầu tư tài chính Hoạt động đầu tư tài chính không tạo ra sản phẩm mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá trị tài sản chính của tổ chức, cá nhân đầu tư.
Đầu tư tài chính có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các trung gian tài chính. Hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm 1. Đặc điểm hoạt động đầu tư tài chính của DNBH Như đã nói ở trên, Công ty bảo hiểm là một pháp nhân chuyên hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm mục đích tạo ra thu nhập và lợi nhuận. Qua việc thực 7 hiện các nghiệp vụ bảo hiểm, tái bảo hiểm, đại lý, công ty bảo hiểm thu được các khoản phí như: phí bảo hiểm gốc, phí nhận tái bảo hiểm, hoa hồng nhượng tái bảo hiểm và phí đại lý.
Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét và đánh giá Công ty bảo hiểm trên góc độ hoạt động bảo hiểm thì chưa phản ánh hết được các hoạt động và hiệu quả của loại hình hoạt động này. Do đặc điểm kinh doanh bảo hiểm là phí bảo hiểm thu trước còn trách nhiệm giao kết hợp đồng được thực hiện sau, công ty bảo hiểm có một nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi khá lớn có thể sử dụng đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định từ lúc thu phí bảo hiểm đến lúc thực hiện nghĩa vụ thanh toán với khách hàng. Đây chính là điều kiện tiền đề cho công ty bảo hiểm thực hiện hoạt động đầu tư.