CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VỐN TIỀN GỬI VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TỪ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về vốn tiền gửi của KHCN ở NHTM 1. Khái niệm về vốn tiền gửi và huy động vốn tiền gửi từ KHCN a. Khái niệm về vốn tiền gửi Theo khái niệm được đưa ra trong giáo trình Ngân hàng thương mại (2018) Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn của ngân hàng.
Thực chất là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời không được sử dụng nên người sở hữu chúng gửi vào ngân hàng nhằm thực hiện những mục đích phục vụ cho nhu cầu thanh toán, kinh doanh, sinh lời, đảm bảo an toàn tài sản của họ. Ngân hàng sử dụng nguồn vốn này với mục đích kinh doanh và cung cấp ngược lại cho khách hàng các dịch vụ tương ứng để đáp ứng nhu cầu mà họ mong muốn. Đặc điểm nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn, thường xuyên biến động, đa dạng về quy mô, kỳ hạn và nguồn gốc hình thành của từng khoản mục vốn huy động và là chi phí chủ yếu của ngân hàng thương mại. Hoạt động huy động vốn tiền gửi từ khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại.
Ở Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng 2010, tại khoản 13, điều 4: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.” Tiền gửi cá nhân là khoản tiền được phát sinh từ thu nhập, tiền nhàn rỗi của gia đình cá nhân được gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn và hưởng lãi, chờ đợi một cơ hội chi tiêu trong tương lai. Không những thế họ còn gửi vào với mục đích thanh toán tuy nhiên bản chất của tiền này là để dành cho cất trữ nên nhìn chung tiền gửi cá nhân có tính ổn định cao. Như vậy, hoạt động huy động vốn tiền gửi từ khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại là việc ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của cá nhân dưới nhiều 7 hình thức khác nhau như tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Các hình thức huy động vốn tiền gửi 1.
Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn là khoản tiền gửi mà người gửi có thể rút ra sử dụng bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng.Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi và được biểu bởi hai loại tiền gửi: - Tiền gửi thanh toán là các khoản tiền gửi không kỳ hạn được sử dụng để tiến hành thanh toán, chi trả các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi khác phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận tiện. Tiền gửi thanh toán thường được bảo quản tại ngân hàng trên hai loại tài khoản: tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai. Đối với tài khoản tiền gửi thanh toán, việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba thường được thực hiện bằng séc hay chuyển khoản. Khách hàng mở tài khoản này nhằm mục đích “đảm bảo thế năng” và sử dụng dễ dàng thuận tiện đồng vốn khi cần thiết, tài khoản vãng lãi là tài khoản có lúc dư nợ, có lúc dư có.
Với tài khoản này, khách hàng còn có thể được ngân hàng đáp ứng nhu cầu tín dụng trong một khoản thời gian nhất định. Đứng trên góc độ ngân hàng tiền gửi không kỳ hạn là một khoản nợ mà ngân hàng luôn phải chủ động trả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, đối với mỗi ngân hàng do có sự không khớp nhịp giữa xuất và nhập trên mỗi tài khoản tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp hay giữa các tài khoản của doanh nghiệp làm cho nhập lớn hơn xuất, tạo nên tài khoản mà ngân hàng được phép sử dụng một phần làm vốn kinh doanh. - Tiền gửi không kỳ hạn phi giao dịch là khoản tiền được ký gửi với mục đích an toàn tài sản, không mang tính chất phục vụ thanh toán.
Khi cần khách hàng có thể đến ngân hàng rút ra để chi tiêu. Cũng giống như trường hợp trên, ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu của khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền và chỉ được phép sử dụng tài khoản khi đã đảm bảo khả năng thanh toán chi trả. Tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và ngân hàng về thời gian rút tiền. Đại bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn gốc tích luỹ 8 và về bản chất chúng được ký thác với mục đích hưởng lãi.
Các ngân hàng thương mại nhận hai loại tiền gửi có kỳ hạn: là tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo rút ( tức khi muốn rút ra phải báo trước), về cơ bản, các khoản tiền gửi có kỳ hạn không được sử dụng tiến hành thanh toán như các khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai.Thông thường, tiền gửi có kỳ hạn là các khoản tiền gửi có thời hạn dài và có lãi suất cao. Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn tài khoản vào kinh doanh. Chính vì vậy, các ngân hàng thương mại luôn tìm cách đa dạng hoá loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng.
Tiền gửi tiết kiệm Thực tế, tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của cá nhân người lao động chưa sử dụng cho tiêu dùng. Khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền đảm bảo một cách an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó. Tiền gửi tiết kiệm là một dạng đặc biệt để tích luỹ tiền tệ trong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân. Trên thực tế, trong nền kinh tế thị trường tiền gửi tiết kiệm được phát triển dưới hai loại hình tiết kiệm sau: - Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về thời hạn gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn. Loại tiền gửi này có quy định mức lãi suất cố định và kỳ hạn xác định ( thường là 30, 60, 90 hay 180 ngày). Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu. Bên cạnh phương thức nhận tiền gửi, các ngân hàng thương mại còn phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng.
Thực chất các nghiệp vụ này là ngân hàng huy động vốn tiền tệ bằng việc phát hành chứng từ có giá. Trong đó chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định, kỳ phiếu công cụ nợ ngắn hạn. 9 Trong huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng, các ngân hàng thương mại phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy động. Nghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn mà vốn tự có và vốn huy động tiền gửi không đủ.
Chứng chỉ tiền gửi là công cụ vay nợ do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường với bản chất tương tự như một khoản tiền gửi có kỳ hạn. Ngân hàng có thể trả tiền lãi và vốn cho người gửi tiền khi đến hạn. Chứng chỉ sau khi phát hành được lưu thông trên thị trường tiền tệ. Ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi với mục đích thanh toán và có rủi ro thấp và hưởng lãi cao hơn so với tín phiếu kho bạc.
Kỳ phiếu ngân hàng là một công cụ nợ do ngân hàng phát hành và được phát hành theo từng đợt với mục đích huy động vốn để đáp ứng nhu cầu về vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vốn này chỉ được huy động trong thời gian nhất định, khi đã huy động đủ theo dự kiến ngân hàng sẽ ngừng việc huy động kỳ phiếu. Đây là hình thức huy động vốn giúp ngân hàng huy động nguồn vốn nhanh, thu hút vốn lớn và lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn. Tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn tiền gửi từ khách hàng cá nhân.
Đối với nền kinh tế thị trường như hiện nay, các ngân hàng đang có cuộc cạnh tranh khốc liệt về vốn, về công nghệ, dịch vụ, nguồn nhân lực để nâng cao khả năng kinh doanh của ngân hàng. Để phục vụ cho việc kinh doanh cũng như duy trì hoạt động của ngân hàng thì ngân hàng cần một lượng vốn lớn. Nguồn vốn huy động là nguyên liệu chính cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là nguồn tiền gửi và dân cư. Hiệu quả của huy động vốn này luôn là điều quan tâm rất lớn của các nhà quản trị ngân hàng trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay nó tác động đến sự phát triển của ngân hàng trên thị trường, nâng cao vị thế cạnh tranh, kinh doanh một cách có hiệu quả của ngân hàng.
Vì vậy nguồn vốn huy động tiền gửi từ KHCN rất quan trọng đối với khách hàng, ngân hàng và cả nền kinh tế. Đối với ngân hàng 10 Nguồn vốn huy động tiền gửi từ khách hàng cá nhân là yếu tố giúp ngân hàng quyết định năng lực thanh toán và uy tín trên thị trường. Khả năng huy động vốn cao, giúp ngân hàng mở rộng quy mô có hiệu quả và nâng cao khả năng cạnh tranh, duy trì hoạt động một cách hiệu quả. Vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại.
Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Thông qua nguồn vốn huy động giúp ngân hàng có đủ khả năng kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là cho vay, mở rộng các hình thức đầu tư và các dịch vụ khác của ngân hàng.