phần mở đầu, kết luận, danh mục tải liệu tham khảo đề tải được kết cấu thành 3 chương như sau: Chương l: Tổng quan lý È hiệu quả hoạt động tại NH thương mai Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động tại Agribank huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tại Agribank huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận. TONG QUAN LY LUAN VE HIEU QUA HOAT DONG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Ban về khái niệm hiệu quả, rừ điển riếng Việt cho rằng: "hiệu quả là kết quả đích thực”.
Từ ngữ nghĩa có tính nguồn gốc và kinh điển này, nhiều tác giả đã vận dụng nó để hình thành nên các khái niệm, các quan điểm tương tự tùy vào mục tiêu nghiên cứu của họ. Tác giả Trương Quang Thông (2010) cho rằng, “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng. hoá sau khi trừ đi chỉ phí và các khoản thuế sẽ được một khoản dương nhất định. Theo đó, hiệu quả cũng có thể được hiểu trong kinh tế nói chung và trong ngành quản trị kinh doanh nói riêng đó là những chỉ tiêu phản ánh về kết quả của quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh và cug cấp dịch vụ.
thu ting lên mà chỉ phí không đổi và hoặc doanh thu không đổi mà chỉ phí giảm xuống hoặc doanh thu vừa tăng chỉ phí lại giảm thì dẫn đến hệ quả là có hiệu quả. Ngược lại với những giả định vừa rồi thì được kết luận là không có hiệu quả trong công tác điều hành kinh doanh. Tiếp nói nghiên cứu và đưa ra khái niệm vẻ hiệu quả, tác giả Nguyễn Ngọc Phúc (2017) quan niệm rằn; Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh: So sánh giữa đầu vào và đầu ra, so sánh giữa chỉ phí kinh doanh bỏ ra và kết quả kinh doanh thu được. Đứng trên góc độ xã hội, chỉ phí xem xét phải là chỉ phí xã hội, do có sự kết hợp của các yếu tố lao động, tư liệu lao động và đối tượng.
lao động theo một tương quan cả về lượng và chất trong quá trình kinh doanh để tạo ra sản phẩm đủ tiêu chuẩn cho tiêu dùng. hiệu quả kinh doanh của các NHTM rit da dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu mả hiệu quả có thể được xét theo những khía cạnh khác nhau. Với mục đích nghiên cứu của để tải này, hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ được nghiên cứu dưới khía cạnh kết quả lợi nhuận hay khả năng sinh lời của các NH trong điều kiện đảm bảo hoạt động. NHTM được ồn định và hạn chế RR".
7 Ngoài ra còn có nhiều những định nghĩa va khái niệm khác nhau vẻ hiệu quả nói chung và hiệu quả của HĐKD nói riêng. Mỗi tác giá có một cách nhìn nhận khác nhau nên đã nêu lên quan điểm khác nhau. Nhưng tựu trung vẫn là thể hiện một phép so sánh, cụ thể và giản đơn hơn đó là một phép trừ giữa hai đại lượng và nếu phép trừ ấy cho kết quả dương thì được xem là hiệu quả và phép trừ cho giá trị âm được xem là không hiệu quả. Đại lượng đem đi bù trừ không hãng chỉ là con s mà nó còn là những quan đi „ những chỉ tiêu, những, mục tiêu ngắn hạn và hoặc dài hạn của tổ chức, doanh nghiệp nơi chủ thể nhận định về hiệu quả ấy.
Ví dụ, trong một chu kỳ kinh doanh 3 năm, tại một phân khúc thị trường nhất định, doanh nghiệp A đặt mục tiêu hiệu quả phải bán được. một lượng hàng hóa nhất định để có doanh thu và chỉ phí hợp lý nhằm có được lợi nhuận sau thuế là một số dương cảng lớn cảng tốt, đạt được như vậy là sẽ hiệu quả. Nhưng cũng bối cảnh kinh doanh ấy, doanh nghiệp B lại đặt mục tiêu hiệu quả không phải là số dương sau thi là là phải chiếm lĩnh được thị phần của vùng lãnh thổ này, bảo đảm tối thiêu 50% các hộ gia đình trong phân khúc. ấy có sử dụng ít nhất một lần sản phẩm mà công ty B đang cung cấp, bắt chấp là lợi nhuận sau thuế là một số âm hay một số dương.
Để có cơ sở phân tích về sau, cũng như có lối nhìn sâu rộng về môi liên hệ giữa khái niệm hiệu quả với hiệu quả trong ngành NH, tác giá dẫn một số quan điểm về hiệu quả kinh doanh của NHTM như sau: Nguyễn Thu Hà (2014) cho rằng: “hiệu quả kinh doanh của NH được xem là kết quả lợi nhuận do hoạt động NH mang lại trong một thời gian nhất định”. Khái niệm này của tác giả Thu Hà đa phần vận dụng tối đa khái niệm về hiệu quả trong kinh doanh khi tác giả này đồng nhất doanh nghiệp với một NHTM. Sự đồng nhất này không có gì mâu thuẫn khi vai trò và chức năng của một 'NHTM có đầy đủ chức năng kinh doanh như một DN. Cụ thể NHTM tập trung.
kinh doanh tài chính thay vì các DN khác kinh doanh các sản phẩm hữu hình và các dịch vụ tương tự. Đi từ những phân tích của các tác giả đi trước về khái niệm hiệu quả, hiệu quả kinh doanh, trang hitps://ditiep.com/hieu-qua-kinh-doanh-ngan-hang- 8 thuong-mai/ dinh nghĩa rằng: "Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại là biểu hiện của mối quan hệ giữa kết quả kinh tế và chỉ phí của ngân hàng. Mối quan hệ này có thể phản ánh theo chỉ tiêu tuyệt đối (theo chiều sâu, chiều rộng); hoặc phản ánh qua chỉ tiêu tương đối (theo không gian và thời gian) giữa kết quả kinh tế và chỉ phí của ngân hàng thương mại.” Tóm lại, để đo lường hiệu quả hoạt động của NH thì phải căn cứ vào kết quả lợi nhuận mà NH đạt được trong một thời gian nhất định. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả HĐKD của NHTM Hiệu quả kinh doanh của một NHTM hoàn toàn có bản chất như hiểu quả của một tổ chức kinh tế nói chung hay các công ty kinh doanh nói riêng.
Ngoài ra, NHTM có vốn góp 100% từ Nhà nước như Agribank Việt Nam thì còn có các nhiệm vụ khác do Nhà nước giao nhưng vẫn được tính vào doanh thu, chỉ phí và đương nhiên chúng tham gia vào quá trình xác định hiệu quả kinh doanh. Một số các nhà nghiên cứu nhận định vẻ hiệu quả kinh doanh thông qua lợi nhuận, tầm quan trọng của việc phân tích hiệu quả như sau: Nguyễn Ngọc Phúc (2017): "Lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của các NH thương mại, trong điều kiện cạnh tranh với các tổ chức định chế tài chính khác. thì áp lực đặt ra đối với các NHTM là hạ thấp chỉ phí. Đánh giá xem xét trên quan điểm biến đổi đầu vào thành đầu ra để xem xét hiệu quả”.
Nguyễn Thị Loan và Trần Thị Ngọc Hạnh (2013): “Một giai đoạn quan trọng của công tác quản tri NH là phân tích hiệu quả. Trên cơ sở phân tích hiệu quả ta sẽ đánh giá được quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh, xác định được các nguyên nhân ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh cũng như kiến nghị những giải pháp xử lý dé từ đó giúp cho các nhà quản trị NH có những quyết định kịp thời và đúng đắn. Bằng cách so sánh kết quả kinh doanh đạt được với chỉ phí bỏ ra để đạt được kết quả đó ta sẽ đánh giá được hiệu quả của quá trình kinh doanh”. Các hoạt động của NH bao gồm: thu hút tiết kiệm, cho vay, kinh doanh ngoại hồi, dịch vụ thẻ,.
vậy dé các nhà quản trị NH cần phải đo lường hiệu quả cho từng hoạt động của NHTM thì cần thông qua các chỉ tiêu sau: 9 1. Thu nhập của ngân hàng Thu nhập của ngân hàng thường được xác định dưới góc nhìn của kế toán nói chung và hệ thống kế toán ngân hàng nói riêng đó là được xem xét dưới 2 hai dòng tiền. Dong thir nl *n từ các hoạt động kinh doanh và dòng thứ hai là đến từ các thu nhập khác. Điển hình là, trong đó các hoạt động kinh doanh đem.
lại nguồn thu từ mua bán nợ, lãi từ các khoản lợi nhuận sau các hợp đồng cho. Trong khi đó các khoản thu nhập khác được xác định tương tự như hệ thống, tính toán trong bảng cân đối kế toán và xác định kết quả kinh doanh đó là các khoản thanh lý hay các khoản dự phòng không dùng đến. Trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phúc (2017) định nghĩa thu nhập của NH: “Ngày nay trước sức ép cạnh tranh ngảy càng gay gắt giữa các NH đẻ có thể đáp ứng nhu cầu cung ứng các sản phẩm dịch vụ đến KH thì các NHTM phải ngày càng cải tiến mở. rộng và phát triển nhiều hoạt động.
Do vậy sẽ làm tăng nguồn thu nhập của các 'NH thương mai bao gồm thu nhập từ HĐKD trong kỳ của NH và thu nhập khác. Thu từ chênh lệch tỷ giá, thu từ HĐKD khác, thu từ HĐKD ngoại hối và vàng, thu lãi góp vốn, thu từ hoạt động mua bán nợ, gồm thu từ hoạt động TD, thu lãi tiền gửi, thu dịch vụ là những nguồn thu từ HĐKD. Các nguồn thu từ thanh lý nhượng bán TS cố định như xe, đất, nhà cửa, cơ sở sản xuất hay các nguồn thu từ dự phòng RR được gọi là thu nhập khác”. Chỉ phí của ngân hàng Ngược với các khoản doanh thu là các khoản chỉ phí mà ngân hằng phải chỉ ra để bảo đảm các hoạt động kinh doanh và cung cấp dịch vụ của mỗi ngân hàng được thực thi.
Điều quan trọng nhất của một tổ chức kinh doanh nói chung và ngân hàng nói riêng là phải làm sao tìm được các giải pháp để có thể giảm thiểu các khoản chỉ phí này một cách thấp nhất nhưng đem lại hiệu quả cao nhất có thể. Bài toán chỉ phí luôn là bài toán làm cho các nha hoạch định và quản trị ngân hàng luôn phải nóng đầu để suy nghĩ và tìm các phương án phủ hợp nhất với từng thời điểm, thời kỳ hoạt động của mỗi ngân hàng. Có nhiều nhà hoạch định chính sách và điều hành cấp trung và cấp cao vẫn còn lúng túng hoặc do còn hạn 10 chế về nghiệp vụ và su am hiểu biết về chi phí nên đã bóp chặt chi phí đến mức. doanh nghiệp không còn hơi thở và chết ngạt trước khi họ kịp nhận ra thì đã quá muộn vì việc bóp chặt chỉ phí một cách không hợp lý sẽ không làm cho doanh.
nghiệp chết ngay lập tức mà chết một cách âm thầm khó nhìn thấy.