Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại; Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam chi nhánh Lý Thường Kiệt Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam chi nhánh Lý Thường Kiệt. Internal 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thƣơng mại 1. Ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương, chủ thể tham gia nói riêng. Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng quan niệm như thế nào về một NHTM, và sự phân biệt nó với các tổ chức phi ngân hàng không phải là điều đơn giản. Rõ ràng, có thể định nghĩa ngân hàng thông qua chức năng mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân hàng thay đổi, mà có sự “thâm nhập” vào chức năng hoạt động ngân hàng của các đối thủ cạnh tranh.
Do đó tuỳ theo điều kiện của mỗi nước và sự phát triển của hệ thống tài chính nước đó mà có những định nghĩa khác nhau về NHTM. Ở mỗi quốc gia, tùy vào nhận thức, quan điểm, mức độ cạnh tranh, phong tục tập quán… Khái niệm được diễn đạt, định nghĩa khác nhau. Quốc hội Hoa Kỳ thì đưa ra một định nghĩa mang tính pháp lý về ngân hàng như sau: “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”. Theo luật Ngân hàng của Pháp (1941), thì Ngân hàng được định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác, hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”[theo 12].
Theo luật pháp Ấn Độ lại có cái nhìn về Ngân hàng như sau, họ định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư” [theo 12]. Đó là các quan niệm về Ngân hàng đứng trên giác độ luật pháp. Theo Giáo sư Peter Rose đưa ra như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài Internal 8 chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Riêng đối với Việt Nam, khái niệm NHTM lần đầu tiên được đề cập tại Nghị định số 53/HĐ T ngày 26/3/1998 dưới dạng Ngân hàng chuyên doanh.
Tuy nhiên hiện nay, theo Luật các Tổ chức tín dụng ban hành năm 2010 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2011 thì: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”[9]. “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”[9].
“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận”[9]. Như vậy thông qua một số khái niệm về ngân hàng thương mại, ta có thể hiểu NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh tiền tệ với mục tiêu thu lợi nhuận, và nó có những đặc trưng như sau: - Là một tổ chức tín dụng -Là một tổ chức được phép nhận ký thác của công chúng với trách nhiệm phải hoàn trả. - Là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác. Điều này khác với tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Hoạt động của ngân hàng thương mại - Hoạt động huy động vốn Ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động để cho vay, đầu tư và thực hiện nghiệp vụ khác, do đó, hoạt động huy động vốn đóng vai trò quan trọng đối với sự Internal 9 tồn tại và phát triển của ngân hàng. Hoạt động huy động vốn bao gồm: + Huy động vốn tự có Mỗi NHTM muốn thành lập và đi vào hoạt động cần phải có một nguồn vốn nhất định ban đầu, trong quá trình hoạt động kinh doanh, nguồn vốn này được không ngừng bổ sung thông qua nhiều phương thức như: tăng từ nguồn lợi nhuận ròng, phát hành thêm cổ phần, góp thêm vốn,… + Hoạt động vốn tiền gửi Tiền gửi là nguồn vốn quan trọng và chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu tổng nguồn vốn của ngân hàng. Ngân hàng huy động vốn tiền gửi từ cá nhân, tổ chức kinh tế dưới nhiều hình thức như tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán,… Mỗi NHTM thường đưa ra nhiều sản phẩm huy động khác nhau, phù hợp với nhu cầu của khách hàng. + Huy động nguồn vốn đi vay Trong những trường hợp khẩn cấp, để giải quyết nhu cầu chi trả trong trường hợp NHTM thiếu hụt dự trữ bắt buộc hoặc dữ trữ thanh toán, ngân hàng phải tiến hành vay của NHNN hoặc các tổ chức tín dụng khác trên thị trường tiền tệ để bù đắp các khoản thiếu hụt đó.
+ Nguồn vốn huy động khác: ngoài các nguồn vốn từ huy động, đi vay, NHTM còn có một số nguồn vốn khác như vốn ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, thu hộ, bảo lãnh… - Hoạt động sử dụng vốn + Hoạt động tín dụng Đây là hoạt động sử dụng vốn đặc trưng, quan trọng và mang lại nguồn thu lớn nhất cho ngân hàng. NHTM sẽ sử dụng số tiền huy động được đem cho vay và thu lãi. Một điểm đáng lưu ý trong hoạt động tín dụng là vấn đề về rủi ro. Ngân hàng muốn hoạt động hiệu quả thì phải đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng đồng thời quản lý rủi ro ở mức thấp nhất có thể.
+ Hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư đem lại nguồn thu quan trọng thứ hai cho ngân hàng. Đối Internal 10 tượng đầu tư thường là chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao hoặc chứng khoán trung và dài hạn hưởng lợi tức cao. Hoạt động đầu tư góp phần đa dạng lợi tức, hỗ trợ cho việc đảm bảo an toàn thanh khoản của NHTM. + Hoạt động thanh toán Trong sự phát triển kinh tế hiện nay, hoạt động trung gian thanh toán của NHTM ngày càng trở nên quan trọng.
Một số dịch vụ thanh toán phổ biến của các ngân hàng hiện nay như: ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, chuyển tiền trong nước và quốc tế, thanh toán L/C. Ngoài ra ngân hàng còn cung cấp một số dịch vụ khác như dịch vụ thẻ, bảo hiểm, giữ hộ tài sản quý, giấy tờ có giá. Hoạt động ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động ngân hàng bán lẻ Thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ”, có từ gốc tiếng Anh là “Retail banking”.
Theo nghĩa đen trong việc cung cấp các hàng hoá, dịch vụ bình thường, bán lẻ là bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng từng cái, từng ít một. Nó khác với bán buôn là bán cho người trung gian, cho nhà phân phối của hàng hóa đó. Trong lĩnh vực ngân hàng, định nghĩa về bán lẻ có hơi khác một chút. NHBL là việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông.
Trong cuốn Từ điển Ngân hàng và Tin học thì Retail banking – hoạt động ngân hàng bán lẻ - nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ - dịch vụ NHBL - là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân. Thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ” được đề cập tới như là một loại hình ngân hàng chia theo tính chất hoạt động mà loại hình đó chủ yếu cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho DN, hộ gia đình và các cá nhân với các khoản tín dụng nhỏ. Internal 11 Thị trường bán lẻ là một cách nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính. Qua đó phần đông những người lao động nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tạo ra một thị trường tiềm năng đa dạng và năng động.
Hiện nay có nhiều khái niệm về hoạt động NHBL theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ngân hàng bán lẻ thực ra là hoạt động bao trùm tất cả các mặt tác nghiệp của NHTM như tín dụng, dịch vụ huy động, phát hành thẻ, dịch vụ thanh toán…. Theo khái niệm của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) thì hoạt động NHBL là loại hình hoạt động điển hình của ngân hàng nơi mà khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những chi nhánh (phòng giao dịch) của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: gửi tiền tiết kiệm và kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và một số các dịch vụ khác đi kèm… Như vậy, theo khái niệm trên thì có thể nhận thấy rằng: hoạt động ngân hàng bán lẻ là loại hình hoạt động mang tính điển hình và phổ biến của một ngân hàng thương mại và hoạt động ngân hàng bán lẻ được xem là một bộ phận cấu thành sản phẩm dịch vụ của một ngân hàng thương mại đơn giản đến ngân hàng đa năng (bao gồm cả ngân hàng đầu tư). Mặt khác, theo khái niệm trên thì đối tượng chủ yếu của NHBL nhằm đến là khách hàng cá nhân nên các dịch vụ thường mang tính giản đơn, dễ thực hiện và thường xuyên nên đây cũng là điều kiện thuận lợi căn bản để hoạt động NHBL phát triển.