CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO LÃNH VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về hoạt động bảo lãnh ngân hàng 1.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng HĐ BL NH ra đời đầu tiên ở Mỹ vào những năm 70 dưới hình thức BL thư hoặc tín dụng thư dự phòng và sau đó được quốc tế hoá như là giải pháp hữu hiệu nhất đảm bảo thực thi nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ tài chính trong các giao dịch thương mại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tại VN, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, HĐ BL hiện nay được ứng dụng rộng rãi trong các loại hình giao dịch (kể cả trong các giao dịch tài chính và phi tài chính, thương mại hay phi thương mại). Do đó, vị trí của BL NH ngày càng được củng cố và mở rộng không ngừng. Hầu hết các giao dịch lớn trong phạm vi nội địa cũng như trên phạm vi quốc tế đều có sự hỗ trợ của BL NH.
Cụ thể thì HĐ BL NH được áp dụng trong mọi lĩnh vực như: vay vốn, đấu thầu, thực hiện hợp đồng, đảm bảo chất lượng sản phẩm, thanh toán, hoàn thanh toán, bảo hành, bảo trì, bảo dưỡng, … Xét về khái niệm BL dưới góc độ pháp lý và góc độ kinh tế đều được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo phương diện pháp lý, nhìn chung, khái niệm BL được hiểu tương đối giống nhau trong pháp luật của các nước. Ví dụ: theo pháp luật Mỹ, bão lãnh được hiểu là thoả thuận trong đó người bão lãnh đồng ý sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên nợ khi bên nợ không trả nợ; BL là việc bên hứa thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ. Theo pháp luật Trung quốc, BL được hiểu là hành vi mà căn cứ vào thoả thuận BL và chủ nợ, người BL sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc chịu trách nhiệm trước con nợ nếu con nợ không trả được nợ.
Theo pháp luật Dân sự nước ta, BL được hiểu là:” BL là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên BL) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận BL) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây được gọi là bên được bão lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bão lãnh không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ.” Theo Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì “bão lãnh NH được hiểu là hình thức 3 cấp tính dụng, theo đó, tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận BL về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho KH khi KH khi KH không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; KH phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thoã thuận. Theo Thông tư 28/2012/TT-NHNN ngày 3/10/2012 quy định về BL NH có quy định ở Điều 3 khoản 1 có quy định: “BL NH (sau đây gọi là BL) là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên BL cam kết bằng văn bản với bên nhận BL sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được BL khi bên được BL không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận BL; bên được BL phải nhận nợ và hoàn trả cho bên BL theo thỏa thuận.“ Định nghĩa này đề cập hai nội dung: Sơ đồ 1. Các bên trong mối quan hệ BL NH NH (Bên BL) (2) Yêu cầu BL (3) Cam kết BL Người được BL (1) HĐ gốc Người nhận BL Một là, trong BL NH, tồn tại cam kết bằng văn bản giữa NH (người BL) với bên có quyền (người nhận BL) về việc người BL sẽ thực hiện nghĩa vụ tài sản thay cho KH (người được BL) khi người này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của họ đối với bên có quyền. Nội dung này thể hiện bản chất pháp lí của BL NH, chính là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự.
Hai là, KH phải nhận nợ với NH và có nghĩa vụ hoàn trả cho NH số tiền đã được trả thay. Đây chính là lí do để quan niệm rằng BL NH có tính chất như là nghiệp vụ cấp tín dụng. Trong thực tế, BL NH được biết đến như là loại hình hoạt động khá phức tạp. Hoạt động này phát sinh hai mối quan hệ pháp luật sau đây: a) Hợp đồng dịch vụ BL được xác lập giữa tổ chức tín dụng BL với KH là tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ tài sản cần được bảo đảm bằng BL; 4 c) Cam kết BL phát sinh giữa tổ chức tín dụng BL với bên có quyền (bên nhận BL).
Hai quan hệ pháp luật này tuy tồn tại độc lập với nhau nhưng có ảnh hưởng chi phối lẫn nhau, theo đó hợp đồng dịch vụ BL là căn cứ để hình thành cam kết BL của tổ chức tín dụng BL đối với bên nhận BL, còn cam kết BL là bằng chứng về việc thực hiện hợp đồng dịch vụ BL giữa tổ chức tín dụng BL với KH được BL. Trong đó, “Cam kết BL” là văn bản của tổ chức tín dụng, bao gồm: Thư BL: là văn bản cam kết của bên BL với bên nhận BL về việc bên bảo lãn sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được BL khi bên được BL không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận BL. Hợp đồng BL: là văn bản thỏa thuận giữa bên BL với bên nhận BL và các bên có liên quan (nếu có) về việc bên BL sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được BL khi bên được BL không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận BL. Các bên kiên quan là các bên có liên quan đến việc BL của tổ chức tín dụng cho KH như bên BL đối ứng, bên xác nhận BL, bên bảo đảm cho nghĩa vụ của KH đối với tổ chức tín dụng BL và các bên khác (nếu có).2 Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng BL NH thường được ví như tấm giấy thông hành cho DN trong các hoạt động mua bán trả chậm, không những tạo thuận lợi cho kế hoạch của DN nhận BL mà các đối tác kinh doanh cũng sẽ có cơ sở để tin tưởng lẫn nhau hơn.
BL đã trở thành loại dịch vụ kinh doanh có nhiều tác động tích cực trong việc thúc đẩy các giao dịch về vốn, các giao dịch kinh doanh không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng mà cả trong dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm… Với ý nghĩa là một loại hình BL đặc thù, BL NH vừa có những đặc điểm của BL nói chung, vừa có những đặc điểm riêng để phân biệt với những hình thức BL khác. Có thể nhận diện BL NH thông qua các đặc điểm chính sau đây: Một là, BL là một mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau: Khi đồng ý BL, NH phát hành thư BL. Thư BL là một hợp đồng giữa hai bên thường là NH và người thụ hưởng. Hợp đồng này độc lập trong mối quan hệ với hợp đồng cơ sở.
Trong quan hệ BL không chỉ là mối quan hệ giữa hai bên mà là mối quan 5 hệ nhiều bên: Sơ đồ 1. Mối quan hệ giữa các bên trong BL NH BL (2) (3) Người yêu cầu BL Người thụ hưởng BL (1) (1) Mối quan hệ gốc, hợp đồng gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu BL. (2) Mối quan hệ giữa người xin BL và NH phát hành thư BL, trong đó, người xin BL đơn yêu cầu NH phát hành thư BL cho đối tác trong hợp đồng thụ hưởng. (3) Mối quan hệ giữa NH phát hành thư BL và người thụ hưởng.
Khi hợp đồng bị vi phạm, NH bồi thường cho người thụ hưởng. Quan hệ giữa bên được BL và bên nhận BL: Đây là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu BL, được thể hiện dưới dạng: hợp đồng mua bán, hợp đồng thi công, hồ sơ mời thầu, đơn dự thầu, … Trong mối quan hệ này, bên được BL có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện cam kết đối với bên nhận BL. Quan hệ giữa bên được BL và NH thương mại BL: Dựa vào quan hệ gốc giữa bên được BL và bên nhận BL, NH thương mại phát hành cam kết BL theo yêu cầu của bên được BL. Mối quan hệ này thể hiện thông qua hợp đồng cấp BL.
Đây là văn bản thỏa thuận giữa NH thương mại với bên được BL và các bên liên quan (nếu có) về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện BL của NH thương mại. Bên được BL có nghĩa vụ hoàn trả cho NH số tiền đã trả thay khi NH phải thanh toán cho bên nhận BL theo cam kết BL. Quan hệ giữa NH thương mại BL và bên nhận BL: NH BL có trách nhiệm thanh toán cho bên nhận BL khi bên được BL vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận BL. Quan hệ này thể hiện thông qua cam kết BL.
Cam kết BL là văn bản BL của NH thương mại, được phát hành dưới dạng thư BL hoặc hợp đồng BL. Thư BL: là cam kết đơn phương bằng văn bản của NH thương mại; còn Hợp đồng BL là thỏa thuận bằng văn bản giữa NH thương mại và bên nhận BL, hoặc giữa NH thương mại, bên nhận BL, bên được BL và các bên liên quan, về việc NH thương mại sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được BL khi bên được BL không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận BL. Nội dung của Cam kết 6 BL gồm: tên và địa chỉ của: bên được BL, NH phát hành, bên thụ hưởng; ngày phát hành; dẫn chiếu hợp đồng gốc; số tiền và loại tiền BL; cam kết chính thức của NH; điều kiện về yêu cầu thanh toán, chứng từ xuất trình; thời hạn BL; điều khoản giảm trừ giá trị BL; dẫn chiếu luật áp dụng; nội dung về NH thông báo, NH xác nhận (nếu có), … Hai là, BL có tính độc lập: Các bên trong từng hợp đồng có quyền và nghĩa vụ riêng: NH, người cung cấp dịch vụ và cam kết thanh toán có hai mối quan hệ với hai đối tượng khác nhau và hoạt động độc lập trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của từng hợp đồng. Trách nhiệm thanh toán của NH phát hành hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa NH phát hành với người được hưởng lợi chỉ như mối quan hệ trong hợp đồng cơ sở.