CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ CÔNG TÁC ĐIỀU HOÀ TIỀN MẶT, AN TOÀN KHO QUỸ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Sự ra đời của kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ là một khâu rất quan trọng trong quá trình quản lý, gồm xây dựng kế hoạch, bố trí các nguồn lực, quản lý điều hành và kiểm soát quá trình tổ chức triển khai thực hiện. Sự hình thành và phát triển hoạt động kiểm toán là một tất yếu khách quan, gắn liền với khoa học quản lý, có chức năng đo lường và đánh giá hiệu quả của các hoạt động kiểm soát khác.
Trên thế giới, hoạt động kiểm toán có từ thế kỷ 19 (Công ty kiểm toán PriceWaterhouse của Anh). Ở Việt Nam, công ty kiểm toán đầu tiên, VACO, được thành lập tháng 5/1991. Kiểm toán Nhà nước hoạt động theo Luật Kiểm toán Nhà nước (trước đây, điều chỉnh bởi Nghị định 70/NĐ-CP ngày 11/7/1994). Kiểm soát nội bộ xuất hiện muộn hơn.
Ngày 28/10/1997, Bộ trưởng Bộ Tài chính có Quyết định số 832/QĐ/CĐKT ban hành Quy chế kiểm toán nội bộ; sau đó, ban hành các Thông tư hướng dẫn về tổ chức bộ máy kiểm soát, kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp Nhà nước. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức và hoạt động kiểm toán nội bộ được bắt đầu từ khi có Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước, với việc hình thành Vụ Tổng kiểm soát (tháng 12/1990). Sau đó, hoạt động kiểm toán nội bộ được quy định tại Điều 57, Luật Ngân hàng Nhà nước số 01/QH10 5 thông qua tại kỳ họp thứ 2, Khoá 10 ngày 12/12/1997 (nay được quy định tại Chương VI, Luật Ngân hàng Nhà nước số 46/2010/QH12 ngày 29/6/2010). Khái niệm về kiểm soát nội bộ - Theo Hội đồng kế toán viên công chứng của Mỹ (AIPA), Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ những chính sách, thủ tục (gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp, biện pháp phối hợp, giám sát trong quản lý và hoạt động kinh doanh) do Ban Lãnh đạo đơn vị thiết lập nhằm kiểm soát thích hợp các rủi ro, bảo vệ tài sản, đảm bảo độ chính xác, tin cậy và thống nhất của các thông tin kế toán và thông tin quản lý, sử dụng tiết kiệm các nguồn lực, nâng cao hiệu quả hoạt động, khuyến khích tuân thủ chính sách, pháp luật và thực hiện thành công các mục tiêu đã đề ra.
- Theo Ủy ban các chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế thì kiểm soát nội bộ là: “Toàn bộ các biện pháp kiểm tra kế toán hoặc các biện pháp khác do Ban giám đốc chịu trách nhiệm xây dựng, áp dụng giám sát nhằm mục đích bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, tính tin cậy của các ghi chép kế toán và của các báo cáo tài chính năm được lập trên cơ sở các ghi chép đó, việc tuân thủ các quy chế và thủ tục hiện hành và việc sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực của doanh nghiệp”. - Liên đoàn Kế toán Quốc tế đưa ra khái niệm: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là kế hoạch của đơn vị và toàn bộ các phương pháp, các bước công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp tuân theo. Hệ thống kiểm soát nội bộ trợ giúp cho các nhà quản lý đạt được mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả tôn trọng các quy chế quản lý, giữ an toàn tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận, ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy”. - Hệ thống kiểm soát nội bộ không chỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà được vận hành liên tục 6 ở tất cả mọi cấp độ quản lý của tổ chức.
Theo đó, hệ thống kế toán cũng là một bộ phận quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ. Mục tiêu, nhiệm vụ của kiểm soát nội bộ Hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu hoạt động (nâng cao hiệu quả hoạt động), đảm bảo thông tin quản lý thông suốt, chính xác, tin cậy, đầy đủ, kịp thời và sự tuân thủ các chế độ, quy định của tổ chức và của pháp luật. Nhiệm vụ của kiểm soát nội bộ là đảm bảo đơn vị hoạt động theo sát chiến lược, kế hoạch kinh doanh đã được hoạch định; phát hiện kịp thời những phát sinh trong thực hiện kế hoạch kinh doanh để có biện pháp giải quyết; ngăn ngừa và phát hiện những sai sót và gian lận trong hoạt động kinh doanh; bảo vệ tài sản và thông tin không bị lạm dụng hoặc sử dụng sai mục đích; hạch toán đầy đủ, đúng thể thức về các nghiệp vụ, hoạt động kinh doanh; và lập báo cáo kịp thời, hợp lệ và tuân thủ các quy định của pháp luật. Hệ thống kiểm soát nội bộ ngày càng trở nên quan trọng đối với những tổ chức có quy mô lớn, nghiệp vụ, lĩnh vực hoạt động đa dạng, địa bàn hoạt động rộng, tiềm ẩn nhiều rủi ro và nhiều cấp độ trong phân cấp quản lý.
Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống kiểm soát nội bộ trong một đơn vị được cấu thành bởi ba bộ phận: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và thể thức, cơ chế kiểm soát. Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ các nhân tố có ảnh hưởng đến quá trình thiết kế, hoạt động và tính hữu hiệu của các chính sách, thủ tục của đơn vị. Các nhân tố này chủ yếu liên quan đến thái độ, nhận thức và hoạt động của Ban Lãnh đạo. Những nhân tố chủ yếu của môi trường kiểm soát như sau: a.
Đặc thù về quản lý 7 - Quan điểm về quản lý của Ban Lãnh đạo, như: thận trọng/mạo hiểm, sáng tạo/tuân thủ, cấp tiến/duy trì mô hình kinh doanh cũ; - Vấn đề chia sẻ quyền lực, phân công phối hợp và phân cấp quản lý trong đơn vị; - Văn hoá công ty/ tổ chức: tinh thần trách nhiệm, hợp tác, làm việc nhóm, trung thực, cống hiến. Cơ cấu tổ chức - Tuỳ thuộc vào quy mô hoạt động của đơn vị và đặc thù hoạt động của từng đơn vị; - Chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, bộ phận, phòng, ban phải rõ ràng, không chồng chéo, không bỏ sót công việc; - Bố trí công việc phù hợp với năng lực, sở trường; từng vị trí công tác phải có bản mô tả công việc, nhiệm vụ rõ ràng. Nhân sự - Tuyển dụng nhân viên có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu công việc; - Đào tạo nhân viên, tạo điều kiện học tập, rèn luyện, trường thành và phát triển nghề nghiệp; - Kiểm soát, đánh giá chất lượng hoàn thành công việc của từng thành viên, đơn vị trong tổ chức; - Đảm bảo hài hoà về lợi ích và sự tham gia đóng góp vào kết quả hoạt động của tổ chức; và bình đẳng về cơ hội tham gia và thăng tiến trong tổ chức. Kế hoạch và lập dự toán Hệ thống kế hoạch và lập dự toán bao gồm các kế hoạch hoạt động kinh doanh, ước tính cân đối tình hình tài chính là những nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát.
Tổ chức và hoạt động của kiểm soát nội bộ Tổ chức kiểm soát nội bộ phải đảm bảo tính độc lập, có đủ nguồn lực có chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công tác. Hoạt động kiểm soát nội bộ cung cấp sự kiểm tra thường xuyên hoặc đột xuất khi cần thiết, đảm bảo khách quan, chuyên môn cao đối với các hoạt động khác trong đơn vị. Các yếu tố bên ngoài, như luật pháp, thể chế, hệ thống quản lý nhà nước cũng có tác động đến môi trường kiểm soát nội bộ 1. Hệ thống kế toán Hệ thống kế toán bao gồm hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán, hệ thống tài khoản và hệ thống bảng tổng hợp, cân đối kế toán.
Mục đích của hệ thống kế toán là nhận biết, thu thập, phân loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế, tài chính của đơn vị. Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải đảm bảo mọi nghiệp vụ phát sinh phải được phê chuẩn hợp lý theo đúng thẩm quyền; tính có thực: cơ cấu kiểm soát không cho phép ghi chép những nghiệp vụ không có thật vào sổ sách của đơn vị; và tính đầy đủ: đảm bảo việc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Hệ thống kế toán cũng đảm bảo các nghiệp vụ phát sinh được phân loại đúng theo sơ đồ tài khoản và ghi nhận chính xác, kịp thời ở sổ sách kế toán. Thể thức, cơ chế kiểm soát Các thể thức kiểm soát: Các thể thức kiểm soát là những chính sách, thủ tục do người lãnh đạo đơn vị thiết lập và chỉ đạo thực hiện nhằm đảm bảo hoạt động tại đơn vị đạt được mục tiêu đề ra và giám sát các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình hoạt động.
Có nhiều thể thức kiểm soát tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể, tuy nhiên ở bình diện chung thường tập trung vào 6 loại: Phân chia trách nhiệm thích hợp; 9 Các thủ tục phê chuẩn đúng đắn; Chứng từ và sổ sách đầy đủ; Bảo vệ tài sản vật chất và sổ sách; Kiểm tra độc lập; Phân tích rà soát. Cơ chế kiểm soát nội bộ có thể được hiểu là tổng thể các quy định về cách thức, tổ chức, chế độ, phương thức kiểm tra, giám sát để đảm bảo việc tuân thủ của mọi cá nhân, mọi đơn vị, mọi tổ chức thực thi các quy định của nội bộ, quy định của đơn vị của tổ chức của ngành hay của địa phương đó, nhằm đạt được các mục tiêu chung. Tóm lại, một hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá là hoàn chỉnh, đủ mạnh phải hội tụ đủ ba bộ phận nêu trên và người quản lý đơn vị phải tạo môi trường tốt để các bộ phận trong hệ thống thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của nó. Môi trường kiểm soát minh bạch tạo điều kiện cho các thủ tục kiểm soát phát huy.
Môi trường kiểm soát yếu, phân tán hoặc cắt lớp sẽ làm cho các thủ tục kiểm soát chỉ còn là hình thức. Tuy nhiên, môi trường kiểm soát tốt mới chỉ là điều kiện cần. Để hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hiệu quả thì các thủ tục kiểm soát phải được thiết lập phù hợp và có hiệu lực. Thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ 1.
Nguyên tắc chung - Nguyên tắc toàn diện: mọi lĩnh vực hoạt động đều phải được kiểm soát.