Phần mở đầu II. Phần nội dung của luận văn Chƣơng 1. Những khái niệm cơ bản 1. Vai trò của việc gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo trong trƣờng đại học 1.
Mô hình đại học nghiên cứu Chƣơng 2. Những luận cứ thực tế 2.1 Quan điểm của các nhà khoa học về xây dựng và phát triển nhóm nghiên cứu 2.2 Đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của Trƣờng ĐHKHXH&NV Chƣơng 3. Các giải pháp xây dựng nhóm nghiên cứu ở Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội 3.1 Định hƣớng hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học gắn liền với các nhóm nghiên cứu 3.2 Khai thác và đầu tƣ phát triển đội ngũ cán bộ khoa học mạnh cả về số lƣợng, trình độ và năng lực 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Xây dựng cơ chế và các chính sách đồng bộ, phù hợp Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo và trích dẫn Phụ lục 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. Những khái niệm cơ bản 1.
Khoa học [3] 1- Khoa học là hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy: Hệ thống tri thức ở đây đƣợc hiểu là hệ thống tri thức khoa học. Khoa học trong trƣờng hợp này đƣợc hiểu nhƣ một hệ thống tĩnh tại các tri thức, xem khoa học nhƣ một sản phẩm trí tuệ đƣợc tích lũy từ hoạt động tìm tòi, sáng tạo của nhà nghiên cứu. Khi nói tri thức khoa học các nhà nghiên cứu muốn phân biệt với tri thức kinh nghiệm. Hai loại tri thức này có điểm chung là đều dựa trên các sự kiện tồn tại khách quan, đều hƣớng tới nhận thức chân lý khách quan tuy nhiên điểm khác của chúng là: + Tri thức kinh nghiệm: Là những hiểu biết đƣợc tích luỹ một cách ngẫu nhiên trong đời sống hàng ngày.
Con ngƣời cảm nhận thế giới khách quan, chịu sự tác động của thế giới khách quan, buộc phải xử lý những tình huống xuất hiện trong tự nhiên, trong lao động và trong ứng xử. Từ quá trình cảm nhận và xử lý các tình huống của con ngƣời những hiểu biết kinh nghiệm đƣợc tích luỹ chuyển dần từ những hiểu biết về từng sự vật riêng lẻ đến những mối liên hệ mang tính hệ thống. Tri thức kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng trong đời sống. Nhờ tri thức kinh nghiệm, con ngƣời có đƣợc những hình dung thực tế về các sự vật, biết cách phản ứng trƣớc tự nhiên, biết ứng xử trong các quan hệ xã hội, tri thức kinh nghiệm giúp con ngƣời giải quyết hàng loạt vấn đề nảy sinh trong tự nhiên, xã hội để có thể tồn tại và phát triển.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tri thức kinh nghiệm ngày càng đa dạng, phong phú, chúng chứa đựng những mặt riêng biệt, đúng đắn, nhƣng chƣa thể đi sâu vào bản chất các sự vật, do đó tri thức kinh nghiệm chỉ giúp cho con ngƣời phát triển đến một khuôn khổ nhất định, không thể vƣợt khỏi những giới hạn về mặt sinh học của chính mình. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm luôn là một cơ sở quan trọng, sơ khởi cho sự hình thành các tri thức khoa học. + Tri thức khoa học: Là những hiểu biết đƣợc tích luỹ một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học đƣợc vạch sẵn theo 1 kế hoạch có mục tiêu xác định (khám phá, sáng tạo) và đƣợc tiến hành dựa trên 1 hệ thống phƣơng pháp khoa học. Tri thức khoa học đƣợc phát triển từ tri thức kinh nghiệm, nhƣng tri thức khoa học không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm, Tri thức khoa học khác căn bản tri thức kinh nghiệm ở chỗ: nó là sự tổng kết từ những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc để khái quát hoá thành cơ sở lý thuyết về các liên hệ bản chất.
Khi nói đến tri thức khoa học là nói đến những kết luận về quy luật tất yếu đã đƣợc khảo nghiệm, kiểm chứng dựa trên những luận cứ lý thuyết, quan sát hoặc thực nghiệm. Tri thức khoa học không dừng lại ở việc phát hiện sự kiện, mà còn đi xa hơn trong việc giải thích các sự kiện bằng các giải thuyết, các cơ sở lý thuyết đã đƣợc hình thành hoặc đề ra những lý thuyết mới để giải thích các sự kiện. Khoa học là một hình thái ý thức xã hội: Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm quan điểm, tƣ tƣởng cùng với những tình cảm, tâm trạng, truyền thống. của cộng đồng xã hội nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.
Ý thức xã hội tồn tại trong những hình thái khác nhau. Những hình thái chủ yếu của ý thức xã hội gồm: ý thức chính trị, tôn giáo, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật và khoa học. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với tƣ cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học có mối quan hệ tƣơng tác với các hình thái ý thức xã hội khác và hợp thành đời sống tinh thần của xã hội. Triết học Mác cũng cho rằng các hình thái ý thức xã hội khác nhau theo đối tƣợng và hình thức phản ánh, theo những chức năng xã hội và theo tính độc đáo của quy luật phát triển.
Theo đó, cũng với tƣ cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tƣơng đối với các hình thái ý thức xã hội khác. Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tƣợng và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt. - Kết luận của nghiên cứu khoa học là đúng nhƣng bối cảnh xã hội chƣa cho phép ứng dụng - Kết luận của nghiên cứu khoa học có thể đúng trong bối cảnh xã hội này nhƣng chƣa phù hợp trong bối cảnh xã hội khác. - Kết luận của nghiên cứu khoa học có thể có những điểm yếu, không phù hợp với quy luật vận động của thực tế xã hội.
Với cách nhìn nhận nhƣ vậy sẽ tránh đƣợc những xung đột xã hội giữa khoa học và các hình thái ý thức xã hội. Cuối cùng, với cách nhìn khoa học là một hình thái ý thức xã hội dẫn đến một kết luận quan trọng trong quản lý khoa học là: Tự do tƣ tƣởng trong khoa học. 3- Khoa học là một thiết chế xã hội Đây là khái niệm xã hội học về khoa học đƣợc Price đƣa vào đầu thập niên 1970 trong cuốn “Thuộc tính của khoa học”. Ông nói rằng: “Có lẽ khoa học sẽ là 1 thiết chế xã hội có ý nghĩa nhất trong một xã hội hiện đại”.
Thiết chế xã hội đƣợc hiểu là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực điều khiển hành vi của con ngƣời trong xã hội. Với tƣ cách là một thiết chế xã hội, khoa học đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội và thực hiện chức năng của một thiết chế xã hội: 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Định ra một khuôn mẫu hành vi lấy tính khoa học làm một thƣớc đo: tác phong làm việc khoa học, tổ chức lao động khoa học, trình bày vấn đề có tính khoa học. - Luận cứ khoa học trở nên một đòi hỏi trong mọi quyết định sản xuất, kinh doanh, tổ chức xã hội. Hàm lƣợng khoa học trong sản phẩm, trong công nghệ trở nên một tiêu chuẩn phấn đấu, xem nhƣ đó là phƣơng tiện giành thế cạnh tranh trên thị trƣờng.
- Khoa học đang ngày càng trở nên một phƣơng tiện biến đổi tận gốc rễ mọi mặt của đời sống xã hội, hơn nữa, một nguyên tắc làm việc, một phong cách ứng xử trong đời sống xã hội. 4- Khoa học là một hoạt động xã hội: Với tƣ cách là một hoạt động xã hội, hoạt động khoa học định hƣớng theo những mục đích cơ bản sau: + Phát hiện ra bản chất các sự vật, phát triển nhận thức về thế giới khách quan. + Sáng tạo các sự vật mới, phát triển các phƣơng tiện cải tạo thế giới. Hoạt động khoa học “Hoạt động khoa học bao gồm nghiên cứu khoa học, phổ biến và chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học, các loại dịch vụ khoa học, như dịch vụ thông tin, dịch vụ đảm bảo các nguồn lực và cơ sở hạ tầng cho nghiên cứu khoa học”[5, tr.3 Nguồn lực khoa học “ Nguồn lực khoa học là các yếu tố đầu vào của nghiên cứu.
Các yếu tố này tạo nên sức mạnh của nghiên cứu và đảm bảo cho sự thực thi mọi ý tưởng nghiên cứu 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguồn lực cho nghiên cứu bao gồm: nguồn lực thông tin (tin lực), nguồn lực tài chính (tài lực), nguồn lực con người (nhân lực), nguồn lực vật tư (vật lực)”[5, tr. Tổ chức khoa học Tổ chức khoa học là thuật ngữ đƣợc sử dụng với hai nghĩa[5, tr.11]: - Tổ chức khoa học là một tập hợp hoạt động (sự tổ chức) nhằm liên kết các yếu tố của nguồn lực khoa học. - Tổ chức khoa học là một thực thể không gian (cái tổ chức), trong đó nhân lực đƣợc sắp sếp theo cấu trúc xác định, đƣợc phân chia chức năng và đƣợc liên kết theo một trật tự xác định do trình tự của hoạt động khoa học chi phối. Nghiên cứu khoa học [5, tr.16] 1- Định nghĩa Ở nƣớc ta hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau, nhiều định nghĩa khác nhau về nghiên cứu khoa học, khái niệm này vẫn chƣa đƣợc hiểu thống nhất.
Với luận văn “Xây dựng nhóm nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học” (nghiên cứu trƣờng hợp Trƣờng ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN) chúng tôi sử dụng định nghĩa về nghiên cứu khoa học sau: “ Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới”. 2- Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những sự vật mà khoa học chƣa hề biết đến. Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt đặc điểm 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác của nghiên cứu khoa học, mà ngƣời nghiên cứu cũng nhƣ ngƣời quản lý nghiên cứu cần quan tâm xử lý những vấn đề cụ thể về mặt phƣơng pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu. Giáo sƣ Vũ Cao Đàm đã đƣa ra một số đặc điểm của nghiên cứu khoa học nhƣ sau: a.