phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục; nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương: Chương1: Khái quát chung về thơ Đường và việc dạy học thơ Đường ở nhà trường phổ thông hiện nay Chương 2: Các biện pháp rút ngắn khoảng cách giữa văn bản và bạn đọc - học sinh trong dạy học thơ Đường Chương 3: Thực nghiệm tổ chức dạy học một số văn bản thơ Đường ở lớp 10 10 Chƣơng 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƠ ĐƢỜNG VÀ VIỆC DẠY HỌC THƠ ĐƢỜNG Ở NHÀ TRƢỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm văn bản và tác phẩm văn học 1.
Khái niệm văn bản văn học Theo Từ điển thuật ngữ văn học, văn bản văn học (hay còn gọi là văn bản tác phẩm văn học) là một dạng của “văn bản nghệ thuật” nói chung. “Văn bản là một chỉnh thể nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức của các thành tố hợp thành, một thông báo mà tác giả (người phát) gửi tới người đọc, người xem (người nhận). Nghĩa của văn bản được xác định bởi quan hệ của nó với thực tại ngoài văn bản, với các văn bản khác, với từng cá nhân, với kí ức và các phẩm chất khác nữa của người phát và người nhận thông báo” [35; tr 395]. Theo Giáo sư Trần Đình Sử, “văn bản văn học là một hệ thống ngôn ngữ do nhà văn sáng tạo, chờ người đọc đến đọc, nó chưa tham gia vào sự hành chức xã hội thẩm mĩ, là đối tượng của sự phân tích khép kín về mặt giải thích học” [42; tr 25].
Quan điểm này cũng được nhấn mạnh thêm bởi R. Như vậy, văn bản văn học là sản phẩm của hoạt động sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn từ của nhà văn, được trình bày theo một hình thức và mục đích nhất định. Văn bản văn học là một hệ thống kí hiệu tồn tại khách quan. Người ta có thể cầm, nhìn và cảm nhận nó bằng giác quan của mình.
Đó có thể là một bài văn, một truyện ngắn, một bài thơ hay một cuốn tiểu thuyết… 11 Lúc này, văn bản văn học chỉ là một tập giấy có chữ, “bất động” và “cứng ngắc”, chưa thể nói gì tới tác động của nó đối với con người, xã hội. Khái niệm tác phẩm văn học Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “tác phẩm văn học là sự thống nhất giữa phần khái quát đã được mã hóa trong văn bản và phần cảm nhận, khám phá của người đọc. Tiếp nhận là điều kiện chủ quan của tồn tại tác phẩm. Những chủ đề, đề tài, tư tưởng, kết cấu, phong cách,… chỉ nhờ tiếp nhận mới bộc lộ hết tiềm năng khái quát và ý nghĩa của chúng.
Những tác phẩm văn học có tầm cỡ, có chiều sâu luôn dành cho người đọc những điều mới mẻ để phát hiện, chiêm nghiệm, suy ngẫm” [35; tr 292]. Theo Lí luận văn học hiện đại, “tác phẩm văn học là hệ thống ngôn ngữ đã được người đọc đọc và phú cho một ý nghĩa nhất định” [42; tr 25]. Như vậy, tác phẩm văn học là sản phẩm tiếp nhận văn bản, tồn tại trong ý thức người đọc. Tác phẩm văn học là dạng đặc biệt của văn bản - dạng “tinh thần”.
“Từ văn bản, người đọc mới dựng nên hình tượng nghệ thuật có dụng ý, là sự tồn tại của ý nghĩa văn học. Hình tượng được mở ra nhiều chiều, ý nghĩa được khám phá từ nhiều góc độ trong nhiều ngữ cảnh” [42; tr 24]. Đó chính là phương thức tồn tại của tác phẩm văn học. Văn bản và tác phẩm văn học là hai khái niệm thống nhất nhưng không đồng nhất.
Văn bản và tác phẩm là “hai phương diện tồn tại của văn bản” [42; tr 25]. Trong đó, văn bản là phương thức tồn tại đầu tiên của tác phẩm, một 12 thành tố của tác phẩm. Văn bản chỉ dẫn, câu thúc và mở, đòi hỏi sự đóng góp sáng tạo của người đọc. Còn tác phẩm là hiện thực sinh động của văn bản trong quá trình tiếp nhận của người đọc.
Phân biệt khái niệm văn bản và tác phẩm văn học là cơ sở để hiểu đúng, hiểu sâu bản chất và quy luật hoạt động của văn nghệ. Khái niệm chiến thuật dạy học 1. Khái niệm chiến thuật Có khá nhiều cách phát biểu khác nhau về thuật ngữ “chiến thuật”. Chẳng hạn, theo Từ điển tiếng Việt, chiến thuật là “cách đánh trong từng trận”, như: chiến thuật phục kích, chiến thuật lấy ít đánh nhiều [37; tr 186].
Theo Từ điển Wikipedia, “chiến thuật” (strategy) là một thiết kế ở cấp độ cao để đạt được một hoặc nhiều mục tiêu trong những điều kiện nhất định”. Theo Hiệp hội Đọc quốc tế (IRA), “một chiến thuật là một cách tiếp cận toàn diện của một cá nhân tới một nhiệm vụ, nó bao gồm việc một người tư duy và hành động như thế nào khi lập kế hoạch và đánh giá những thành công của chính mình. Nói chung những người thành công là những người sử dụng tốt các chiến thuật, họ biết dùng các cách thức phong phú gắn với mục đích cụ thể như thế nào để thực hiện chúng trong một chuỗi công việc đã được lập kế hoạch và kiểm soát việc lập kế hoạch của họ” [23; tr 56]. Như vậy, có thể hiểu “chiến thuật” là nghệ thuật vạch kế hoạch, là toàn bộ những cách thức, phương pháp khéo léo cần phải sử dụng để đạt được mục tiêu trong một lĩnh vực hoạt động nhất định.
Khái niệm chiến thuật dạy học Về thuật ngữ chiến thuật dạy học hiện cũng có nhiều cách phát biểu khác nhau. Theo Từ điển Wikipedia, chiến thuật dạy học (teaching strategies) là những phương pháp mà giáo viên sử dụng cho phép học sinh chiếm lĩnh được 13 các thông tin mà họ đang dạy. Trong tiếng Anh, thuật ngữ chiến thuật dạy học (teaching stratecgy) được sử dụng rộng rãi, với các cấp độ nghĩa khác nhau: Thứ nhất, chiến thuật dạy học là “phương châm, kế hoạch tổng thể cho cả một khóa học, chương trình học, môn học, lớp học bao gồm mục tiêu, nội dung, cấu trúc chương trình, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá và các thành tố cơ bản khác” [50]. Thứ hai, chiến thuật dạy học là “những nguyên tắc, phương pháp dạy học nói chung như: phương pháp thuyết trình, phương pháp dạy học hợp tác, phương pháp dạy học theo dự án” [50].
Thứ ba, chiến thuật dạy học là “những biện pháp, kỹ thuật dạy học có tính chất khéo léo, mẹo mực nhằm thu hút và thúc đẩy người học học tích cực và đạt được các mục tiêu dạy học đã xác định. Kỹ thuật dạy học bao gồm các nguyên tắc hoặc các bước, các chỉ dẫn cụ thể cho một hoạt động dạy học nhất định. Ở cấp độ này, người ta có thể chỉ ra các chiến thuật dạy học như: động não, sơ đồ tư duy, đặt câu hỏi, tự đặt câu hỏi, thảo luận nhóm, kỹ thuật KW…” [51]. Như vậy, “chiến thuật dạy học” vừa là nghệ thuật thiết kế kế hoạch dạy học vừa là toàn bộ những cách thức, biện pháp, kỹ thuật khéo léo mà giáo viên sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu dạy học nhất định.
Khái niệm chiến thuật dạy đọc văn Khái niệm “chiến thuật dạy đọc văn” cũng được hiểu và sử dụng với các cấp độ nghĩa như trên. Theo Garner, “chiến thuật đọc - hiểu” là “một quá trình nhận thức được dẫn dắt thận trọng bởi mục đích cụ thể, hoặc một cách xử lý để điều khiển, chuyển sự cố gắng của người đọc tới việc giải mã văn bản và kiến tạo ý nghĩa của văn bản. Chiến thuật là bước đệm quan trọng, là cây cầu nối không thể 14 thiếu để bạn đọc học sinh từng bước trở thành người đọc độc lập, thuần thục , có kỹ năng và sáng tạo” [23; tr 57]. Nói cách khác, nếu đích đến là hình thành ở bạn đọc học sinh tất cả các phẩm chất của một độc giả đích thực thì chiến thuật là con đường dần dần, từng bước để chinh phục khó khăn trở ngại, những rào chắn trong tư duy, trong cảm thụ để việc đọc trở nên dễ dàng hơn, độc giả có cơ hội và khả năng làm chủ hành động đọc của mình, cộng hưởng và đồng sáng tạo với nhà văn.
Như vậy, “chiến thuật dạy đọc văn” là nghệ thuật thiết kế kế hoạch dạy học sinh đọc, tiếp nhận văn bản ; là toàn bộ những cách thức, kỹ thuật khéo léo mà giáo viên sử dụng để dẫn dắt học sinh khám phá, chiếm lĩnh ý nghĩa văn bản. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm “chiến thuật dạy học” chủ yếu ở cấp độ nghĩa thứ ba - các biện pháp, kỹ thuật khuyến khích và thúc đẩy học sinh đọc thơ Đường một cách tích cực và sáng tạo. Tầm đón nhận, khoảng cách thẩm mĩ và đồng nhất thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học 1.Tầm đón nhận Tầm đón nhận (erwahrtungshorizont) hay còn gọi là tầm đón đợi, chân trời đón đợi, tầm kì vọng là thuật ngữ được nhà Mĩ học tiếp nhận người Đức H. Jauss tiếp thu từ K.
Mannheim trong cuốn “Con người và xã hội trong thời kỳ xây dựng lại”, xuất bản năm 1958. Nhưng ông đã phát triển và mở rộng thêm nhiều và xem đó là một trong những phạm trù nền tảng cho học thuyết của mình. Trong công trình nổi tiếng Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học ra đời năm 1970, khái niệm tầm đón nhận đã được H. Jauss xác định rất rõ ràng, bao gồm ba yếu tố, “đầu tiên là từ những chuẩn mực đã quen thuộc hoặc từ thi pháp nội tại của thể loại; thứ hai là từ mối quan hệ ẩn kín đối với những tác phẩm quen thuộc của môi trường văn học; thứ ba là từ 15 mâu thuẫn giữa hư cấu và hiện thực, chức năng thi pháp và thực tiễn của ngôn ngữ mà người dọc nhạy cảm thường xuyên có khả năng so sánh” [11; tr 90].
Từ quan niệm của Jauss, đã có rất nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau. Theo nhà nghiên cứu người Pháp A. Compagnon, tầm đón nhận là “toàn bộ các quy ước tạo thành năng lực của một người đọc (hay của một lớp người đọc) tại một thời điểm lịch sử nhất định, hệ thống chuẩn mực xác định một thế hệ lịch sử” [7; tr 227]. Ở Việt Nam, khái niệm tầm đón nhận hiện cũng tồn tại nhiều cách giải thích và cách hiểu có phần khác nhau.
Phương Lựu, tầm đón nhận “là những nhu cầu và trình độ thưởng thức kết tinh từ kinh nghiệm sống, hứng thú, lí tưởng của mỗi người đọc” [32; tr 545]. Theo Nguyễn Văn Dân, tầm đón nhận “là trình độ kiến thức văn hóa - văn học của công chúng” [ 9; tr 56].