CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU 1. Những lý luận chung về Đấu thầu 1. Khái niệm Đấu thầu Đã được xuất hiện từ lâu trên thế giới bởi gắn liền với một hoạt động chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường nhưng mới hơn một thập kỷ nay, thuật ngữ “Đấu thầu” mới dần trở nên quen thuộc ở Việt Nam. Đấu thầu là một hoạt động giúp cho người mua mua được hàng hóa, người đầu tư có thể hoàn thành dự án, công trình hay dịch vụ của mình một cách tốt nhất.
Đấu thầu là quá trình thực hiện hoạt động “mua bán” đặc biệt. Trong đó, người mua, người đầu tư yêu cầu một hoặc nhiều người bán cung cấp những lời chào hàng cho một dịch vụ, công trình, dự án hoặc hàng hóa cần mua nào đó. Trên cơ sở những lời chào hàng, người mua hoặc nhà đầu tư sẽ lựa chọn đối tác là một hoặc nhiều người cung cấp hàng hóa, dịch vụ tốt nhất. Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích “Đấu thầu là phương thức giao dịch đặc biệt, theo đó người muốn xây dựng một công trình (người gọi thầu) công bố trước các yêu cầu và điều kiện xây dựng công trình để người nhận xây dựng công trình (người dự thầu) công bố giá mà mình muốn nhận.
Người gọi thầu sẽ lựa chọn người chủ thầu nào phù hợp với điều kiện của mình, và giá thấp hơn. Phương thức đấu thầu được áp dụng tương đối phổ biến trong việc mua sắm tài sản và xây dựng các công trình tư nhân và Nhà nước”. Theo khái niệm này, đấu thầu bị giới hạn chỉ dành cho lĩnh vực xây lắp, chỉ là một phần trong những hoạt động đấu thầu ngày nay thực hiện. Theo quy chế Đấu thầu hiện nay của Việt Nam, Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu.
Bên mời thầu là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp pháp của chủ dự án. Chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc đấu thầu. Nhà thầu là tổ chức kinh tế có đủ tư 7 Luan van cách pháp nhân tham gia đấu thầu (năng lực, kinh nghiệm, không đang trong thời gian bị cấm tham gia đấu thầu. Nhà thầu là nhà tư vấn trong đấu thầu tư vấn, nhà cung cấp trong đấu thầu mua sắm, nhà đầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác đầu tư, nhà xây dựng, thiết kế trong đấu thầu xây lắp.
Theo quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật đấu thầu 43/2013/QH13 của Việt Nam, thì “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”. Từ các định nghĩa đã được trích dẫn, bản chất của đấu thầu là hoạt động mua bán đặc biệt. Trong đó, BMT là người mua có quyền lựa chọn người bán – nhà thầu tốt nhất một cách công khai sau một quy trình đã được quy định sẵn. Trong đấu thầu, tính cạnh tranh của các nhà thầu được xem xét như là yếu tố quyết định.
Trước đây, khi nền kinh tế Việt Nam còn ở chế độ bao cấp, người mua không có quyền lựa chọn những hàng hóa phù hợp, thậm chí còn mua theo kiểu tem phiếu. Chỉ đến khi nền kinh tế Việt Nam theo chế độ kinh tế thị trường định hướng XHCN thì tính cạnh tranh xuất hiện, người mua được quyền quyết định chọn người bán. Khái niệm về đấu thầu cũng dần được hình thành và được chấp nhận như một điều tất yếu. Một số khái niệm cơ bản trong đấu thầu a.
Bên mời thầu Bên mời thầu là cơ quan, tổ chức có chuyên môn và năng lực để thực hiện các hoạt động đấu thầu, bao gồm: Chủ đầu tư hoặc tổ chức do chủ đầu tư quyết định thành lập hoặc lựa chọn; Đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng nguồn vốn mua sắm thường xuyên; Đơn vị mua sắm tập trung; Cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức trực thuộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn. Nhà thầu Nhà thầu trong nước là tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam hoặc cá nhân mang quốc tịch Việt Nam tham dự thầu. Nhà thầu nước ngoài là tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài hoặc cá nhân mang quốc tịch nước ngoài tham dự thầu tại Việt Nam. Gói thầu Gói thầu là một phần hoặc toàn bộ dự án, dự toán mua sắm; gói thầu có thể bao gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc là khối lượng mua sắm một lần, khối lượng mua sắm cho một thời kỳ đối với mua sắm thường xuyên, mua sắm tập trung.
Hồ sơ mời thầu Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, bao gồm các yêu cầu cho một dự án, gói thầu, làm căn cứ để nhà thầu, nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu tổ chức đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. Hồ sơ yêu cầu Hồ sơ yêu cầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho hình thức chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh tranh, bao gồm các yêu cầu cho một dự án, gói thầu, làm căn cứ để nhà thầu, nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ đề xuất và để bên mời thầu tổ chức đánh giá hồ sơ đề xuất nhằm lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. Hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất Hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất là toàn bộ tài liệu do nhà thầu, nhà đầu tư lập và nộp cho bên mời thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu. Đặc điểm của hoạt động đấu thầu Từ những khái niệm và định nghĩa về đấu thầu trên, có thể rút ra những đặc điểm của đấu thầu như: 9 Luan van Một là, bản chất của đấu thầu là một hoạt động mua bán đặc biệt.
Khi đấu thầu, người mua (Bên mời thầu) có quyền lựa chọn người bán dịch vụ hoặc hàng hóa (nhà thầu) tốt nhất một cách công khai và theo quy trình đã được quy định sẵn. Hai là, có thể thấy hoạt động đấu thầu sẽ mang tính cạnh tranh vô cùng cao, vì thế, đấu thầu sẽ chỉ có trong nền kinh tế thị trường khi đất nước đó đã phát triển đến mức tương đối ổn định. Khi đó, cung lớn hơn cầu, người bán phải cạnh tranh để có được khách hàng. Còn người mua được lựa chọn người bán phù hợp với yêu cầu mà mình đã đặt ra trước đó cho dịch vụ hoặc hàng hóa.
Hoạt động đấu thầu và các hoạt động thương mại khác tồn tại những điểm tương đồng nhau. Trong đấu thầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ được thực hiện bởi những nhà thầu tham dự có tư cách pháp nhân; được thực hiện nhằm mục đích sinh lời; có đối tượng là các hàng hóa dịch vụ được phép lưu thông theo quy định của pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia đấu thầu được xác lập theo những hình thức pháp lý nhất định do pháp luật quy định. Bên cạnh đó, đấu thầu cũng có những đặc trưng cơ bản liên quan đến quy mô bên mua – bên bán, giá mua – giá bán, đối tượng mua sắm và pháp luật đấu thầu.
Người mua hàng hóa, dịch vụ có quyền lựa chọn người bán với quy mô lớn. Sự lựa chọn trong hoạt động đấu thầu đặc biệt hơn mua bán hàng hóa thông thường vì người mua sẽ đưa ra các yêu cầu và tổ chức một “cuộc thi” để những người bán có khả năng tới tham dự và cạnh tranh với nhau. Đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là một quá trình gồm nhiều giai đoạn. Muốn tiến hành hoạt động đấu thầu, các bên phải thực hiện qua nhiều giai đoạn mời thầu, dự thầu, mở thầu, xét thầu, xếp hạng và lựa chọn nhà thầu, công bố kết quả đấu thầu đến ký kết hợp đồng.
Mỗi giai đoạn của quá trình đấu thầu đều hướng tới một mục tiêu khác nhau nhưng giữa chúng vẫn có mối liên hệ mật thiết, gắn bó. Vì vậy, quy mô của sự lựa chọn trong hoạt động đấu thầu lớn hơn hẳn các hoạt động mua bán khác. 10 Luan van Hàng hóa, dịch vụ trong hoạt động đấu thầu thường có giá trị lớn, số lượng nhiều hoặc có yêu cầu khắt khe về kỹ thuật. Người bán quan tâm tới “cuộc thi” vì người mua đem lại lợi ích cho người bán bằng cách mua hàng số lượng lớn hoặc hàng có có giá trị cao, kéo dài trong tương lai.
Trường hợp hàng hóa, dịch vụ có yêu cầu đặc biệt về kỹ thuật, không thể áp dụng hình thức mua bán thông thường mà phải tổ chức đấu thầu sẽ được đưa thông tin lên các phương tiện truyền thông để người bán tham gia đấu thầu và đàm phán, thỏa thuận hợp đồng sau đó. Các bên khi tham gia phải biết phân biệt những mức giá khác nhau trong đấu thầu. Khi bắt đầu, BMT sẽ đưa ra một mức ngân sách để nhà thầu dựa vào đó giới thiệu những sản phẩm đạt yêu cầu với mức giá thấp hơn hoặc bằng mức ngân sách. Muốn đạt được thỏa thuận, cả BMT và nhà thầu cần nắm được các mức giá của cuộc đấu thầu.
Mức ngân sách thường được gọi là giá gói thầu, là mức giá cao nhất, không phải là giá mua hàng hóa, dịch vụ. Mỗi người mua (trong cuộc đấu thầu là nhà thầu) sẽ đề xuất những mức giá khác nhau cho bên bán. Mức giá cuối cùng của hàng hóa dịch vụ sẽ là mức giá của nhà thầu trúng tuyển và được đưa vào hợp đồng ký kết. Hoạt động đấu thầu sẽ dựa trên cơ sở pháp lý là các loại HSMT, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ được thực hiện dưới hình thức pháp lý là HSMT và HSDT.
Trong đó, HSMT là văn bản được BMT lập, bao gồm chi tiết đầy đủ yêu cầu về kỹ thuật, tài chính, thương mại… của hàng hóa, dịch vụ cần mua sắm, sử dụng và những điều kiện khác của gói thầu. HSDT do nhà thầu lập và nộp cho BMT làm cơ sở để xem xét, lựa chọn người đáp ứng được các yêu cầu nhất để ký kết hợp đồng. Những giấy tờ này sẽ là căn cứ pháp lý rõ ràng khi xảy ra các vấn đề phát sinh như: thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ BMT – nhà thầu.